vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu, tiêu hủy 0,13 gram Heroin đã thu của Mạc Văn A cùng vỏ bao niêm phong.

Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ Luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Mạc Văn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST. Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N A tron…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn An - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu, tiêu hủy 0,13 gram Heroin đã thu của Mạc Văn A cùng vỏ bao niêm phong.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 27 - 3 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU- NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Xinh và bà Trương Thị Tấm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 07/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mạc Văn A. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1988 tại huyện Q C - tỉnh N A.

Nơi cư trú: Bản C - xã C T - huyện Q C - tỉnh N A. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: Lớp 12/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Mạc Văn H và bà Lương Thị H. Vợ: Hà Thị Ng và có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 07/12/2018 đến ngày 16/12/2018 và bị bắt, tạm giam từ ngày 16/12/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào sáng ngày 07/12/2018, Mạc Văn A là đối tượng nghiện chất ma túy đi xe mô tô hiệu HONDA Vision có biển số đăng ký 37G1-090.85 từ nhà lên bản M M - xã C K - huyện Q P - tỉnh N A tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi A gặp một người đàn ông không quen biết đang đi bộ ngoài đường nên hỏi mua ma túy của người này với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và được người đó bán cho 03 (ba) gói nhỏ trong có Heroin. Sau khi mua xong, A cầm ba gói này ở tay phải rồi điều khiển xe máy quay về nhà. Trên đường về khi đi đến khu vực bản N Tr thuộc xã C B của huyện Q C thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q C thu giữ từ Mạc Văn A 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision có biển số đăng ký 37G1-090.85 mang tên Hà Thị Ng (vợ của bị cáo) và 01 điện thoại di động.

Ngoài ra còn thu giữ 03 gói ma túy được bọc bằng bao ni lông có tổng trọng lượng 0,33 gram (không phẩy ba ba gram). Đã trích 0,20 gram giám định; còn lại 0,13 gram.

Tại Cơ quan điều tra, A khai nhận bản thân nghiện ma túy nên mua Heroin về để sử dụng.

Kết luận giám định số 141/KL-PC09(MT) ngày 13/12/2018 của phòng kỹ thuật Hình sự - công an tỉnh N A kết luận: 03 (ba) mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Mạc Văn A đều là ma túy (Heroin) và có tổng khối lượng là 0,33 gram (không phẩy ba mươi ba gram).

Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 28/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C, tỉnh N A quyết định truy tố ra trước Tòa án để xét xử Mạc Văn A về tội „„Tàng trữ trái phép chất ma túy‟‟ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 điều 249; các điểm s, v khoản 1-khoản 2 điều 51 BLHS. Xử phạt Mạc Văn A từ 12 đến 15 tháng tù.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy là vật chứng trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q C, của điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Về cơ bản Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng do Bộ luật tố tụng Hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn này.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q C đã cho chị Hà Thị Ng (là vợ Mạc Văn A) nhận lại chiếc điện thoại di động Mastel màu xanh trên cơ sở có Giấy ủy quyền của Mạc Văn A (bút lục số 53). Về mặt nội dung: Tại phiên Tòa bị cáo trình bày bản thân không viết giấy ủy quyền này, không có ý định viết và cũng không nhờ ai làm hộ giấy ủy quyền; về mặt hình thức: Giấy ủy quyền này được lập không đúng quy định của pháp luật, không có xác nhận của chính quyền địa phương nhưng vẫn được chấp nhận (lãnh đạo Cơ quan cảnh sát điều tra ký vào giấy ủy quyền này là không đúng quy định). Đây là vi phạm thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra mà Điều tra viên mắc phải và trong đó có một phần lỗi của Kiểm sát viên thực hành quyền kiểm sát điều tra đã không làm hết trách nhiệm của mình nên dẫn đến vi phạm trên làm ảnh hưởng đến việc tuân thủ những quy định của pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử kiến nghị với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q C và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo về chuyên môn để Điều tra viên, Kiểm sát viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng quy định của pháp luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tránh để sai sót như trường hợp chấp nhận giấy ủy quyền nói trên.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa đã xác định được bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên sáng ngày 07/12/2018 đã sử dụng xe máy đăng ký mang tên Hà Thị Ng (vợ bị cáo) đi lên huyện Q P tìm mua Heroin về sử dụng. Sau khi mua được của một người không quen biết tại bản M M - xã C K - huyện Q P - tỉnh N A 03 (ba) gói nhỏ Heroin được bọc bằng bao ni lông với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) rồi quay về. Trên đường về đến khu vực bản N Tr thuộc xã C B của huyện Q C thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ, bị thu giữ 03 gói ma túy được bọc bằng bao ni lông có tổng trọng lượng 0,33 gram; ngoài ra còn bị thu giữ 01 xe mô tô hiệu HONDA Vision có biển số đăng ký 37G1-090.85 và 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu xanh.

Quá trình xét xử tại phiên Tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu trong Hồ sơ vụ án và những vật chứng được thu giữ đã được thẩm tra, xem xét. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: bị cáo Mạc Văn A đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi này đã hoàn thành và phải chịu trách nhiệm hình sự và các trách nhiệm khác liên quan tương ứng theo quy định của pháp luật. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS là thỏa đáng và có cở sở.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp có tính chất nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, được gia đình, nhà trường, xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và có nhận thức nhất định về pháp luật; đã có gia đình, vợ con nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng, không chịu khó làm ăn và không tuân thủ quy định của pháp luật nên đã sớm đi vào con đường nghiện ngập và từ đó đã dẫn đến vi phạm pháp luật; đó là xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, từ đó gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực có chủ ý, nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của bản thân.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo trong quá trình tham gia công tác xã hội trước đây cũng đã có thành tích được khen thưởng; ông nội bị cáo là ông Mạc Xuân H được nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương vì đã có thành tích, công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 - khoản 2 điều 51 BLHS để vận dụng xử phạt đối với bị cáo khi lượng hình. Cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sỗng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời cũng là làm bài học răn đe, phòng ngừa, cảnh tỉnh chung.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm v khoản 1 điều 51 BLHS để xử phạt bị cáo vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác. Xét thấy điều này là không phù hợp, không thỏa đáng vì bản thân bị cáo thực tế chỉ có giấy khen về công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Không có thành tích, công lao gì xuất sắc. Do đó không được chấp nhận

[5] Trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

[6] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q C thu giữ từ Mạc Văn A 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision có biển số đăng ký 37G1-090.85 mang tên Hà Thị Ng (vợ của bị cáo) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu xanh.

Ngoài ra còn thu giữ 03 gói ma túy được bọc bằng bao ni lông có tổng trọng lượng 0,33 gram Heroin (không phẩy ba ba gram). Đã trích 0,20 gram giám định; còn lại 0,13 gram.

Chiếc xe máy và điện thoại bị thu giữ không sử dụng cho mục đích phạm tội, không phải do phạm tội mà có. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q C đã giao, trả cho chị Hà Thị Ng; nay không xem xét lại nữa.

Đối với 0,13 gram Heroin còn lại cần căn cứ quy định điều 106 BLTTHS để tịch thu, tiêu hủy.

[7] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 điều 51; điều 38 BLHS. Xử phạt Mạc Văn A 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2018 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu, tiêu hủy 0,13 gram Heroin đã thu của Mạc Văn A cùng vỏ bao niêm phong. Có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Q C.

Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ Luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Mạc Văn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N A trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- Công an huyện Q C;

- VKSND huyện Q C;

- Bộ phận HSNV Công an huyện Q C;

- Phòng KTNV&THAHS - TAND tỉnh N A;

Võ Văn Dũng

- Chi cục THADS huyện Q C;

- Sở Tư pháp N A;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của

Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của

Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ