vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 24/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn K (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn K 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/3/2019). Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn K (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS - ST
Ngày 24/6/2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nông Văn Luân.

2. Ông Nguyễn Đức Nhâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân huyện N tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2019/HSST ngày 20/5/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST - HS ngày 12/6/2019 đối với bị cáo:

Bàn Văn K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/6/1995; Nơi sinh: huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoản thể: Không; Con ông: Bàn Văn S, sinh năm 1969; con bà: Bàn Thị N, sinh năm 1975; Anh, chị, em ruột: Có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lý Văn H, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.

2. Triệu Văn B, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ ngày 27/3/2019, tại thôn Xị, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, tổ công tác Công an huyện N lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Bàn Văn K trú tại Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Bàn Văn K 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, Khương khai nhận gói nhỏ là Heroine, K tàng trữ mục đích để sử dụng. Ngày 28/3/2019 tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Bàn Văn K, kết quả: (+) Dương tính (có chất ma túy trong cơ thể K).

Tại Kết luận giám định số 264/GĐKTHS ngày 29/3/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột màu trắng ngà gói trong giấy màu trắng thu giữ của Bàn Văn K gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng: 0,304 gam (không phẩy ba không bốn gam).

Trong quá trình điều tra Bàn Văn K khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 27/3/2019, Khương đi xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 (xe mượn của Lý Văn H, trú tại Thôn N, xã Đ, huyện N) sang xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua chất ma túy về sử dụng, khi tới khu vực đỉnh dốc Cốc Quéo (địa phận giáp ranh giữa xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang với xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) K gặp hỏi mua được 01 gói nhỏ Heroine được gói bằng giấy màu trắng, với giá 300.000 đồng của một người đàn ông trung niên khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ), sau khi mua được Heroine K điều khiển xe mô tô đi về, trên đường về K dừng xe vào nơi vắng người sử dụng một phần Heroine vừa mua được bằng cách tiêm chính vào cơ thể, số Heroine còn lại K gói và cầm trong lòng bàn tay phải đi tiếp về nhà, khi đi đến Km 35 đường Na Hang - Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (đường QL 279) thuộc thôn X, xã Đ, huyện N thì bị Tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N kiểm tra, phát hiện và thu giữ.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Bàn Văn K: 01 phong bì niêm phong bên trong là Heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C1; 03 bơm kim tiêm; 02 ống nước cất hiệu NOVOCAIN; 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238.

Từ nội dung trên Cáo trạng số: 10/CT-VKSNH ngày 17/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Bàn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới; Kết thúc phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Văn K từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/3/2019).

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang bên trong có chứa chất ma túy Heroine, 03 bơm kim tiêm; 02 ống nước cất hiệu NOVOCAIN.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 cho chủ sở hữu là anh Lý Văn H.

Trả lại cho Bàn Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C1, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 17/5/2019”.

Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Triệu Văn B trình bày: Ngày 27/3/2019 anh có mượn xe của anh Lý Văn H để đi đi câu cá, khi anh đang ở nhà bố vợ thì bị cáo K hỏi mượn xe đi xuống chợ Đà Vị mua đồ nên anh đã cho bị cáo mượn, anh không biết bị cáo K mượn xe đi mua ma túy, nay anh yêu cầu trả lại chiếc xe SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 cho anh H.

Anh Lý Văn H trình bày: Ngày 27/3/2019 anh có cho anh Triệu Văn B mượn xe SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 là tài sản của anh, sau đó anh Ba cho bị cáo K mượn xe, anh không biết anh B cho bị cáo K mượn xe để đi mua ma túy, nay anh yêu cầu trả lại cho anh chiếc xe nêu trên.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về nội dung vụ án: Hồi 21 giờ ngày 27/3/2019, tại thôn X, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, Bàn Văn K đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,304 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

. Về áp dụng pháp luật: Cáo trạng số: 10/CT-VKSNH ngày 17/5/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Bàn Văn K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung Kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bàn Văn K phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, làm suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cất giữ trái phép ma túy để sử dụng, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và quyết tâm phạm tội cao. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

(3) Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng liên quan đến vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang bên trong có chứa chất ma túy Heroine, 03 bơm kim tiêm; 02 ống nước cất hiệu NOVOCAIN.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 cho chủ sở hữu là ông Lý Văn H.

Trả lại cho Bàn Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C1 do không liên quan đến vụ án. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 17/5/2019”.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông theo K khai đã bán Heroine cho K tại khu vực đỉnh dốc Cốc Quéo, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý trong vụ án.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 bị cáo K sử dụng để đi mua ma túy quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lý Văn H, trú tại Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, anh H cho anh Triệu Văn B, khi anh B cho bị cáo K mượn, cả anh H và anh B không biết bị cáo K sử dụng để đi mua ma túy. Vì vậy xét thấy cần trả lại chiếc xe trên cho chủ sử hữu anh Lý Văn H.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn K (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn K 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/3/2019).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang bên trong có chứa chất ma túy Heroine, 03 bơm kim tiêm; 02 ống nước cất hiệu NOVOCAIN.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH, biển kiểm soát 22N1-0238 cho chủ sở hữu là ông Lý Văn H.

Trả lại cho Bàn Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C1. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 17/5/2019”.

3.Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bàn Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/06/2019)./.

Cỡ chữ