vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tiến M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. 1.Tịch thu tiêu huỷ gồm: 0,5477 gam (Không phẩy năm nghìn bốn trăm bẩy bẩy gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Lê Tiến M trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 404/KLGĐ, ngày 23-11-20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Tiến Mạnh phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tiến M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 21-02-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Nghị và bà Quách Thị Anh Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Tiến M, sinh ngày 18-02-1992, tại xã H, huyện H, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Quang T và bà Bùi Thị H; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 53/2013/HSST ngày 19-7-2013 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Lê Tiến M 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 06-11-2014, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến ngày 22-11-2018, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung của bản án trên nên chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22-11-2018, đến ngày 25-11-2018 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 2002, nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh T

- Người đại diện theo quy định của pháp luật cho anh Nguyễn Xuân H: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964, nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh T là bố đẻ anh H(ông P và anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 22-11-2018, tại đoạn đường ĐH61 thuộc địa phận Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh T; Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Lê Tiến M, sinh ngày 18-02-1992, nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh T có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay trái 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba màu vàng, bên trong có 01 đoạn ống nhựa đường kẻ màu đỏ (dạng ống hút) được bít kín hai đầu chứa các hạt tinh thể trong suốt. M khai nhận đó là ma túy đá, cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong ống ma tuý trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng.

Ngoài ra, Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình còn thu giữ, quản lý của Lê Tiến M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen; 01 xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 17L1 - 1256 đều đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 404/KLGĐ- PC09 ngày 23-11-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Lê Tiến M là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5696 gam (Không phẩy năm nghìn sáu trăm chín mươi sáu gam). Methamphetamine STT:323, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKSHH ngày 31-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Lê Tiến M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Tiến M khai nhận: Trưa ngày 22-11-2018, bị cáo điều khiển xe máy Biển kiểm soát 17 L1-1256 (bị cáo mượn của anh H con bà V ở xã H) đến khu vực Đ, xã Đ để gặp anh H (bị cáo không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể của người này) lấy ma túy về sử dụng vì bản thân bị cáo là người nghiện ma túy đá. Khi gặp, anh H đưa cho bị cáo 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinatba màu vàng, bên trong có 01 đoạn ống nhựa, dạng ống hút có đường kẻ sọc đỏ được bịt kín hai đầu, bên trong ống nhựa có các hạt tinh thể trong suốt là ma túy đá. Sau khi lấy được ma túy đến khoảng hơn 16 giờ cùng ngày bị cáo đi chơi game và lên cơn nghiện nên đã mang số ma túy mà anh H cho tìm chỗ để sử dụng. Khi bị cáo đang đi một mình tại đoạn đường ĐH 61 thuộc khu vực thôn Q, xã H thì bị lực lượng công an huyện Hưng Hà kiểm tra. Do bị cáo hoảng sợ nên đã thả vỏ bao thuốc lá vinataba bên trong có ma túy từ lòng bàn tay trái xuống đất ngay cạnh chân bị cáo đang đứng. Sau đó lực lượng Công an yêu cầu bị cáo nhặt lên và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Tiến M như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Tiến M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tiến M từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22-11-2018; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu của bị cáo Lê Tiến M là vật chứng của vụ án, sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 404/KLGĐ ngày 23-11-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; trả lại cho bị cáo Lê Tiến M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, bàn phím bấm; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, bàn phím bấm đều đã qua sử dụng; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng và ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo Lê Tiến M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập hồi 16 giờ 50 phút ngày 22/11/2018 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Hòa Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập hồi 18 giờ 35 ngày 22-11-2018; Bản kết luận giám định số 404/KLGĐ- PC09 ngày 23-11-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 1980, trú tại Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh T; anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1976, trú tại Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh T; anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 2002, trú tại Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh T.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 22-11-2018, tại đoạn đường ĐH61 thuộc địa phận Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh T; Lê Tiến M, sinh ngày 18-02-1992, nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5696 gam (không phẩy năm nghìn sáu trăm chín mươi sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Tiến M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định như sau:

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Lê Tiến M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo Lê Tiến M thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác; trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy: Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do mắc nghiện ma túy bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc 0,5696 gam ma túy, loại Methamphetamine, bị cáo Lê Tiến M khai nhận: Vào trưa ngày 22-11-2018, tại quán nước ven đường thuộc địa phận khu vực Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh T, bị cáo được một người đàn ông tên H (bị cáo không biết họ, tên đệm, địa chỉ) cho bị cáo để sử dụng. Ngoài lời khai của Bị cáo M, không có tài liệu nào khác chứng minh, không xác định được con người cụ thể đã đưa ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thu giữ, quản lý của bị cáo Lê Tiến M, sau khi giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 404/KLGĐ ngày 23-11-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, bàn phím bấm; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, bàn phím bấm đều đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo; Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 17L1 - 1256. Tại biên bản ghi lời khai của anh Trần Văn H và bà Nguyễn Thị V ngày 06-12-2018 thể hiện chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1961, nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh T, khi bị cáo M mượn và sử dụng chiếc xe máy trên đi mua ma túy, bà V không biết nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã trả lại chiếc xe máy trên cho bà Vui là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Tiến M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Tiến M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Tiến M 01(một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22-11-2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1.Tịch thu tiêu huỷ gồm: 0,5477 gam (Không phẩy năm nghìn bốn trăm bẩy bẩy gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Lê Tiến M trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 404/KLGĐ, ngày 23-11-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

3.2. Trả lại bị cáo Lê Tiến M 01 điện thoại di nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, bàn phím bấm; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, bàn phím bấm đều đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01-02-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Tiến M phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Tiến M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ