vanban.org

Bản án 09/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện A Lưới, TP. Huế Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Bị cáo Hoàng Trọng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Hình phạt: Bị cáo Hoàng Trọng B 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 24/10/2019. Giao bị cáo Hoàng Trọng B cho Ủy ban nhân dân thị trấn A L, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế và nhà trường nơi công tác, gia đình có trách nhiệm phối hợp vớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trọng B bị xét xử về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Bị cáo Hoàng Trọng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A LƯỚI
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 24-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Cương.

2. Bà Lê Thị Mai Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A Lưới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/ TLST-HS ngày 04 tháng 09 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Trọng B, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1976 tại huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ M, tổ dân phố S, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công Th, sinh: 1941 và bà Phạm Thị Th, sinh năm 1943; có vợ là Nguyễn Thị H và có hai người con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Lê Thị Th, sinh năm: 1965 (đã chết).

* Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hồ Văn T, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ M, tổ dân phố S, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1968; địa chỉ: Thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Anh Hồ Văn H, sinh năm:1985; địa chỉ: Thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Anh Hồ Văn H1( Q), sinh năm: 1967 ; địa chỉ: Thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 16/01/2019 Hoàng Trọng B có giấy phép lái xe theo quy định đã trực tiếp điều khiển xe mô tô mang BKS:75F7-63.22 lưu thông theo hướng từ thị trấn A L đi ra xã Hồng K, huyện A L. Khi xe chạy đến Km 338 + 200 trên trục đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận thôn A Ti, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế đoạn đường được rãi thảm nhựa lòng đường rộng 6m đây là đoạn đường được chia thành hai làn, mỗi làn rộng 3m có dãi phân cách đứt quảng bằng sơn màu trắng. Lúc này Hoàng Trọng B phát hiện phía trước có người đi bộ, cách xe mô tô của mình đang điều khiển khoảng 60 mét đến 70 mét thì B đã bóp còi báo hiệu và vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy khi chỉ còn cách bà Lê Thị Th khoảng 5 mét đến 6 mét, thì Hoàng Trọng B điều khiển xe mô tô lách về phía bên phải người bà Th theo hướng đi của mình thì phần tay cầm bên trái của xe mô tô đã tông vào cung sườn trước bên trái xườn ức của bà Lê Thị Th (Sinh năm: 1965 trú tại thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh thừa thiên Huế) làm bà Th ngã xuống đường dẫn đến tử vong. Hậu quả: bà Lê Thị Th chết sau khi đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện A L.

Qua dựng hiện trường xác định: Hiện trường dựng lại vụ tai nạn giao thông thuộc Km 338+200 đường Hồ Chí Minh đoạn qua thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh thừa thiên Huế, mặt đường được rãi thảm nhựa lòng đường rộng 6m đây là đoạn đường được chia thành hai làn, mỗi làn rộng 3m có dãi phân cách đứt quảng bằng sơn màu trắng. Quá trình dựng hiện trường phát hiện:

Vị trí số 1 có vết xước 10m30x0m05 có chiều hướng thị trấn A L- xã Bắc S, khởi điểm vết xước cách mặt đường phải là 0m52 và cách trụ điện thoại HK1/A6 là 24m85, về phía xã Hồng K kết thúc điểm cách mép đường là 0,47m.

Vị trí số 2 vết chà kích thước 0m47x0m005 có chiều hướng thị trấn A Lưới – xã Bắc S, khởi điểm cách mép đường phải là 0m và cách khởi điểm số (1) là 0m84 về phía xã Bắc S, kết thúc điểm cách mép đường phải là 0m30.

Vị trí số 3 vết chà kích thước 1m00x0m06 có chiều hướng thị trấn A L – xã Bắc S, khởi điểm cách mép đường phải là 0m10, cách kết thúc điểm số 2 là 2m25 về phía xã Bắc S, kết thúc điểm cách mép đường phải là 0m13.

Vị trí số 4 là vị trí nạn nhân, có chiều hướng đầu về phía xã Bắc S, chân về phía thị trấn A L, số 4 cách mép đường phải là 0m20, cách kết thúc điểm số 3 là 1m00.

Vị trí số 5 là vùng dịch, cách mép đường phải là 1m45 và cách số 4 là 0m84 về phía xã Bắc S.

Vị trị số 6 là vết xước kích thước 1m87x0m005 có chiều hướng thị trấn A L đến xã Bắc S, khởi điểm cách mép đường phải là 0m05 và cách vị trí số 5 là 2m80 về phía xã Bắc S, kết thúc đường cách mép đường phải là 0m05.

Vị trí số 7 là vùng vỡ kích thước 0m22x0m23, tâm vùng vỡ cách mép đường phải là 0m30 và cách kết thúc điểm số 6 là 0m83.

Vị trí số 8 là xe mô tô 75F7-6322 đang trong tình trạng ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng xã Bắc S, đuôi xe hướng thị trấn A L, trục trước xe cách mép đường phải là 0m, trục sau xe cách mép đường phải là 0m45 và cách tâm số 7 là 0m45 về phía xã Bắc S.

Khám phương tiện xe mô tô mang biển số: 75F7-6322 xác định.

Xe mô tô 75F7-6322 có số máy: 05FMG310227999; số khung DR 100-10227999. Dấu vết trên phương tiện: Dè chắn bùn phía trước bị mài sáng phần nhựa tạo vùng có kích thước (3x6)cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 58cm; Giỏ xe bị mài mòn làm sáng phần kim loại và cong vênh dồn từ ngoài vào trong, tạo vùng có kích thước 12x25cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 73cm; Gương chiếu hậu bên trái bị gãy vỡ và rơi khỏi vị trí ban đầu; Tay cầm ghi đông bên trái phần mút ngoài cùng bị mài phần nhựa, tạo vùng có kích thước 2x2cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 97cm; Yếm chắn gió phần bên trái bị gãy vỡ tạo vùng có kích thước 18x30cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 60cm; Gác chân trước phần bên trái phần cao su bị mài tua tạo vùng có kích thước 3x5cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 27cm; Gác chân sau bên trái bị gãy vỡ và rơi khỏi vị trí ban đầu, phần mút ngoài cùng bị mài làm sáng mới phần phần kim loại tạo vùng có kích thước 0,5x1cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 27cm; Thanh kim loại bảo vệ thân xe bị mài sáng phần kim loại có kích thước 2x6cm, điểm gần nhất cách mặt đất là 67cm.

Chân chống xe phần bên trái bị mài làm sáng phần kim loại tạo vùng có kích thước 1x0,5cm. Yếm chắn gió bên phải bị gãy vỡ tạo vùng có kích thước 14x55cm, điểm gần nhất là 50cm.

Khám nghiệm tử thi xác định: Các vết tổn thương trên cơ thể; Khám ngoài:

Tử thi nữ giới, chiều dài tử thi 145cm, tóc ngắn màu đen, bạc một phần, tử thi đang trong quá trình lạnh, xác cứng. Vết hoen tử thi mờ nhạt bán cố định, tập trung vùng sau cơ thể, được người nhà xác định là Lê Thị Th sinh năm 1965.

Trang phục và các vật dụng mang theo: Mặc ngoài áo khoác màu xanh- hồng, phía trong mặc áo thun họa tiết hoa văn màu nâu – xám, áo ngực màu đen, quàn thun dài màu đen, quần lót màu đỏ.

Vùng đầu, mặt, cổ: Vùng trán giữa có diện trầy da kích thước 1x0,5cm. Vùng trán phải ngay vùng chân tóc có diện trầy da kích thước 2x1cm trên nền xưng nề kích thước 5x3cm. Hai mắt nhắm,bầm tụ máu mi mắt trên phải, niêm mạc mắt hai bên nhạt, nhãn cầu hai bên không tổn thương. Hai lỗ mũi có máu chảy ra, hai lỗ tai khô. Miệng ngậm, lưỡi nằm trong cung răng, răng 02 hàm không tổn thương, khoang miệng chứa đầy máu. Vùng chẩm có đường rách da nham nhở dài 8cm, đã dược khâu 4 mũi, trên diện sưng nề 8x7cm.

Vùng ngực, bụng, lưng, sinh dục: Vùng ngực vị trí thân xương ức cách đường nách dưới trái 15cm, cách gót chân 105cm có diện trầy- hằn da kích thước 1x1,2cm, diện trầy da kích thước 5x2cm.

Tứ chi: Mặt mu đốt 1-2 ngón trỏ - giữa bàn tay phải có diện trầy da kích thước 5x3cm.

Khám trong: Vỡ hệ thống xương nền sọ. Gãy cung trước xương sườn 4-5 bên trái xương ức (ngay dưới vị trí vết trầy- hằn da ở vùng ngực đã mô tả bên trên).

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 27/GĐ, ngày 15/2/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận về nguyên nhân chết của bà Lê Thị Th như sau:

Vùng chẩm có đường rách da nham nhở dài 8cm, đã được khâu 4 mũi, trên diện sưng nề 8x7cm. Vỡ hệ thống xương nền sọ. Gãy cung sườn trước 4-5 bên trái xương ức và nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương vùng xương ức trái trên cơ thể nạn nhân do vật tày có diện hẹp gây ra. Tổn thương trên cơ thể nạn nhân do vật tày có diện rộng gây ra.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện A Lưới đã tạm giữ một áo da màu nâu, bên trong có vải lông mềm, gần túi áo dưới bên trái có một lớp bùn đất, bên ống tay phải của áo có một lớp rách da; một xe mô tô mang Biển kiểm soát: 75F7-6322 nhãn hiệu DRIN, số loại LIFAN.

Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo Hoàng Trọng B đã thăm hỏi, động viên và đã tự nguyện thỏa thuận hỗ trợ tiền mai táng cho gia đình nạn nhân Lê Thị Th với tổng số tiền là 118.800.000 (một trăm mươi tám triệu tám trăm đồng) và gia đình bị hại đã có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.

Theo Bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-HAL, ngày 04-09-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới quyết định truy tố Hoàng Trọng B về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo Hoàng Trọng B 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 36 tháng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên tuyên trả một chiếc mô tô mang biển kiểm soát: 75F7-6322 nhãn hiệu DRIN, số loại LIFAN cho chủ sở hữu Hoàng Trọng B.

Tịch thu một áo da màu nâu, bên trong có vải lông mềm, gần túi áo dưới bên trái có một lớp bùn đất, bên ống tay phải của áo có một lớp rách da; không có giá trị nên tiêu hủy.

Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hoàng Trọng B và không yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác.

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Hoàng Trọng B không có bào chữa gì khác, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Qúa trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Kết luận giám định pháp y của phòng Kỹ thuật giám định của Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và lời khai của những người làm chứng. Từ những chứng cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 16/01/2019, bị cáo Hoàng Trọng B có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, trực tiếp điều khiển xe mô tô mang biển số kiểm soát: 75F7- 63.22 lưu thông theo hướng từ thị trấn A L ra xã Hồng K, huyện A L. Khi xe chạy đến Km 338 + 200 trên trục đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận thôn A T, xã Hồng K, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo Hoàng Trọng B đã phát hiện phía trước có chướng ngại vật là người đi bộ ngược chiều thì bà Lê Thị Th bước sang đường từ phải sang trái nhưng bà Th không chú ý quan sát xe mô tô và khi phát hiện có chiếc xe mô tô đi ngược chiều gần bà thì bà bước lùi trên đường nên bị cáo tránh xe về phía bên phải đã tông vào phía trước người bà đã ngã xuống đường nhựa, sau đó người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện huyện A L đã tử vong. Bị cáo Hoàng Trọng B điều khiển phương tiện vào ban ngày tầm nhìn không bị hạn chế nhưng không chú ý quan sát, để làm chủ tốc độ. Khi phát hiện người đi bộ phía trước ngược chiều, bị cáo B đã không giảm tốc độ đến mức không còn nguy hiểm, có thể dừng lại một cách an toàn nhưng vẫn tiếp tục điều khiển xe vượt về phía bên phải đã gây ra tai nạn làm chết một người.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 27/GĐ, ngày 15/2/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận về nguyên nhân chết của bà Lê Thị Th như sau: Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

Hành vi của Hoàng Trọng B đã vi phạm vào khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số: 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ và vi phạm khoản 11 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của Hoàng Trọng B đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới truy tố bị cáo Hoàng Trọng B là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hoàng Trọng B từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 36 tháng, là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, cần phải răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung để đấu tranh phòng chống tội phạm về tai nạn giao đang gia tăng như hiện nay, bặc biệt là việc lập lại trật tự an toàn giao thông của cả nước nói chung và của huyện A L nói riêng.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo B, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo B có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường đầy đủ như đã thỏa thuận, kịp thời thăm hỏi động viên gia đình bị hại và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B, bố mẹ đẻ của đã bị cáo đã có công với cách mạng được Nhà nước truy tặng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến chống mỹ cứu nước và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và vừa là lao động chính trong gia đình nên được áp dụng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy người bị hại bà Lê Thị Th đi bộ khi tham gia giao thông, cũng không chấp hành đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Tại Khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ, đã qui định: "Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường, trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường", trong vụ án tai nạn này người bị hại cũng có lỗi một phần nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xem xét cho bị cáo B được hưởng án treo và cần giao bị cáo B cho Uỷ ban nhân dân thị trấn A L, nhà trường nơi công tác kết hợp với gia đình quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện răn đe giáo dục đối với bị cáo. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận thỏa thuận giữa bị cáo Hoàng Trọng B với người đại diện hợp pháp bị hại. Bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền là 118.800.000đồng cho gia đình bị hại là ông Hồ Văn T và không yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Trả lại một chiếc mô tô mang biển kiểm soát: 75F7-6322 nhãn hiệu DRIN, số loại LIFAN, màu nâu, số máy: 05FMG310227999; số khung DR 100-10227999 cho chủ sở hữu Hoàng Trọng B.

Tịch thu một áo da màu nâu, bên trong có vải lông mềm, gần túi áo dưới bên trái có một lớp bùn đất, bên ống tay phải của áo có một lớp rách da; không có giá trị nên tiêu hủy.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đối với Hoàng Trọng B. Tuyên xử:

1. Tội danh: Bị cáo Hoàng Trọng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Hình phạt: Bị cáo Hoàng Trọng B 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 24/10/2019.

Giao bị cáo Hoàng Trọng B cho Ủy ban nhân dân thị trấn A L, huyện A L, tỉnh Thừa Thiên Huế và nhà trường nơi công tác, gia đình có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn A L việc quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người phải chấp hành án thay đổi cư trú thì thực hiện theo khoản 2 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại một chiếc mô tô mang biển kiểm soát: 75F7-6322 nhãn hiệu DRIN, số loại LIFAN, màu nâu, số máy: 05FMG310227999; số khung DR 100-10227999 cho chủ sở hữu Hoàng Trọng B.

Tịch thu một áo da màu nâu, bên trong có vải lông mềm, gần túi áo dưới bên trái có một lớp bùn đất, bên ống tay phải của áo có một lớp rách da; không có giá trị nên tiêu hủy.

4 .Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Hoàng Trọng B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ