vanban.org

Bản án 09/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 25/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Anh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. [2] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSPT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Anh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐI ̣NH
[

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HS-PT
Ngày: 25.12.2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Võ Công Phương, Bà Võ Thị Hồng Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoàng - Thư ký TAND tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2019/TLPT-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Đoàn Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2018/HS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố QN.

Bị cáo có kháng cáo:

Đoàn Anh T, sinh năm: 1994 tại Bình Định; nơi cư trú: đường VVD, P.NM, TP.QN, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn H, sinh năm 1960 và bà Phan Thị Q, sinh năm 1961; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18.5.2018, Đoàn Anh T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô hướng từ đường VB đến đường DH. Khi đến cách ngã ba khoảng 10m, T phát hiện bà Bùi Thị N đang đi bộ qua đường hướng từ bên phải của xe mô tô T đang lưu thông sang bên trái đường và đã qua gần đến vạch kẻ phân chia làn đường. Nghĩ rằng bà N sẽ tiếp tục qua đường nên T vẫn điều khiển xe theo tốc độ cũ khoảng 30 km/h, khi cách bà N khoảng 02m, bà N đang đi nghe tiếng còi xe mô tô chạy cùng chiều với T nên sợ lùi lại, T không xử lý kịp đã để đầu xe mô tô T đang điều khiển tông vào đùi trái bà N làm bà ngã xuống đường gây ra vụ tai nạn giao thông. Bà N được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định và chết lúc 20 giờ 30 phút cùng ngày.

Ngày 24.5.2018, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân chết của bà Bùi Thị N là: chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy, đa chấn thương.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 101/2018/HS-ST ngày 09.10.2018 của Tòa án nhân dân thành phố QN đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Anh T 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 23.10.2018 bị cáo Đoàn Anh T kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:

Bị cáo Đoàn Anh T có giấy phép lái xe theo quy định. Khi điều khiển xe mô tô đến cách ngã ba đường VB với DH khoảng 10m, bị cáo phát hiện bà Bùi Thị N đang đi bộ qua đường nhưng bị cáo không giảm tốc độ mà vẫn giữ nguyên tốc độ và bóp còi. Bà N nghe tiếng còi xe mô tô nên sợ lùi lại, bị cáo không xử lý kịp đã để đầu xe mô tô tông vào đùi trái bà N làm bà ngã xuống đường và chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Do đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận. Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào nhân thân bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt đã tuyên là phù hợp với các quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới, do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Anh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

[2] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSPT.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ