vanban.org

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Tạ Văn K.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0001994 ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Bà B đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị B - Tạ Văn K"
  • Tòa quyết gì? Xử: Cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Tạ Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HNGĐ - ST
Ngày 09 tháng 5 năm 2019
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Kim Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Long

2. Bà Bùi Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 337/2018/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị đơn: Ông Tạ Văn K, sinh năm 1970

Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà và ông Tạ Văn K kết hôn ngày 15/7/1992 và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phú (cũ). Nay là Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đăng ký và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn của bà và ông K là tự nguyện, không bị đe dọa hay ép buộc gì. Sau khi kết hôn bà về chung sống cùng gia đình ông K tại thôn N, xã N ngay. Bà và ông K chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông K có quan hệ bất chính với người đàn bà khác. Bà và ông K đã sống ly thân từ đó đến nay, trong thời gian ly thân thì vợ chồng đã bỏ mặc, không quan, chăm sóc hay giúp đỡ gì đến nhau trong cuộc sống nữa.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Văn K.

Về con chung: Bà và ông K có 01 con chung là Tạ Thị H, sinh năm 1996. Hiện đã trưởng thành, trên 18 tuổi và đã kết hôn, sinh sống tại tỉnh Hưng Yên nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, đất nông nghiệp và công sức: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Tạ Văn K tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 17/4/2019 do Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang thực hiện, ông K trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị B kết hôn năm 1991 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đồng thời ông thừa nhận sau khi kết hôn bà B về chung sống cùng gia đình ông tại thôn N, xã N ngay. Trong cuộc sống thì vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến cuộc sống không có hạnh phúc. Ông và bà B đã sống ly thân từ năm 1998 đến nay, trong thời gian ly thân thì ông và bà B đã bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc hay giúp đỡ gì đến nhau trong cuộc sống nữa.

Nay bà B xin ly hôn, ông đồng ý vì ông cũng xác định tình cảm vợ chồng là không còn.

Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị B có 01 con chung là Tạ Thị H, hiện đã trưởng thành, trên 18 nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, đất nông nghiệp: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến thời điểm thời điểm xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thụ lý và thông báo về việc thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng trong vụ án; chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, ban hành và gửi thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định. Thẩm phán đã thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không kiến nghị gì về tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Xử: Cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn ông Tạ Văn K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với bị đơn ông Tạ Văn K theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy việc kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

Về tố tụng: Bị đơn ông Tạ Văn K đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Trích lục kết hôn đề ngày 23/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thì bà Nguyễn Thị B và ông Tạ Văn K kết hôn ngày 15/7/1992 chứ không phải năm 1991 như lời trình bày của ông K. Việc kết hôn của bà B và ông K không thuộc trường hợp bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã có một thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 01 con chung. Bà B và ông K đều thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ năm 1998, trong thời gian ly thân thì vợ chồng đã bỏ mặc không còn quan tâm, chăm sóc hay giúp đỡ gì đến nhau trong cuộc sống nữa. Bản thân ông K đã chuyển đến sinh sống tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang từ năm 1994. Ông K cũng đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B.

Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa bà B và ông K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc bà B xin ly hôn ông K là có căn cứ. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho bà B được ly hôn ông K.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị B và ông Tạ Văn K đều thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là Tạ Thị H, hiện đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên đều không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, đất nông nghiệp và công sức: Do các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử: Cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Tạ Văn K.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0001994 ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Bà B đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường.

- Các đương sự;

- Ủy ban nhân dân xã N, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Kim Văn Quang

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN VĨNH TƯỜNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số:

/2018/HNGĐ - ST Ngày 31 tháng 8 năm 2018 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

TRÍCH LỤC BẢN ÁN DÂN SỰ

Tại Bản án số:

/2018/HNGĐ - ST ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, giữa:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Phương Dung, sinh năm 1995.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn Mới, xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: Khu T, thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Anh Chu Văn Tâm, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn Mới, xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG ĐÃ QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Cho chị Đoàn Thị Phương Dung được ly hôn với anh Chu Văn Tâm.

2. Chị Đoàn Thị Phương Dung được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Văn Quân, sinh ngày 28/7/2016 (hiện cháu đang ở với chị Dung). Anh Chu Văn Tâm không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Về án phí:

Chị Đoàn Thị Phương Dung phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: AA/2016/0003676 ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Chị Dung đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Chị Đoàn Thị Phương Dung;

- Lưu VPTAND huyện Vĩnh Tường.

Kim Văn Quang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường.

- Các đương sự;

- Ủy ban nhân dân xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Kim Văn Quang CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Thông Lê Xuân Tầm

Kim Văn Quang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Vĩnh Tường;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường.

- Các đương sự;

- Ủy ban nhân dân thị trấn Thổ Tang (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Kim Văn Quang

Áp dụng các Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xử:

1. Cho ông Nguyễn Hồng Đào được ly hôn với bà Đỗ Thị Hồng Lê.

2. Về con chung: Bà Đỗ Thị Hồng Lê được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Việt Hoàng, sinh ngày 29/11/2008 (hiện cháu đang ở với bà Lê). Ông Đào có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng bà Lê cho cháu Hoàng với mức 1.500.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2018 cho đến khi cháu Hoàng đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về án phí: Ông Đào phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Đào còn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ