vanban.org

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dƣơng Thị Thu P, cho chị Dƣơng Thị Thu P ly hôn anh Phạm Văn S.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Dƣơng Thị Thu P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục các con là Phạm Xuân Vũ, sinh ngày 06/02/2005 và Phạm Hoàng Nam, sinh ngày 18/6/2011 từ tháng 3 năm 2019 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh S cấp dƣỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dƣơng Thị Thu P, cho chị Dƣơng Thị Thu P ly hôn anh Phạm Văn S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HNGĐ-ST
Ngày 29/3/2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 296/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/3/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2019 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Dƣơng Thị Thu P, sinh năm 1983; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị đơn: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1978; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị P có mặt, anh S vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Dƣơng Thị Thu P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn S kết hôn với nhau vào ngày 14/11/2003 trên cơ sở tự nguyện. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai ngƣời không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, anh S không quan tâm đến vợ con, lại không rõ ràng về kinh tế gia đình, nhiều lần giấu chị đi vay nợ nhƣng không biết S dụng vào mục đích gì. Chị đã nhiều lần trao đổi, góp ý với anh S nhƣng anh S không thay đổi, dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi nhau. Cuối năm 2018, do có nhiều ngƣời đến nhà đòi nợ, chị thấy không tốt cho tâm lý các con nên đã đƣa các con về nhà mẹ đẻ ở cùng thôn sống. Từ khi chị về nhà mẹ đẻ đến nay, anh S cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ hôn nhân của anh chị, chị thấy không còn tình cảm với anh S nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh S.

Về quan hệ con chung: Chị và anh S có hai con chung là Phạm Xuân V, sinh ngày 06/02/2005 và Phạm Hoàng N, sinh ngày 18/6/2011, cả hai con hiện đang ở cùng chị. Nguyện vọng của chị đƣợc nuôi cả hai con và không yêu cầu anh S cấp dƣỡng, hiện chị làm công nhân công ty sản xuất gấu bông và làm thêm công việc bán vé máy bay, thu nhập bình quân là 7.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn là anh Phạm Văn S trình bày về điều kiện, thời gian kết hôn giống nhƣ lời trình bày của chị P. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn, anh S xác định là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, không thống nhất đƣợc với nhau trong mọi việc. Khi biết chị P xin ly hôn, anh đã chủ động làm lành, khuyên bảo nhƣng chị P vẫn kiên quyết ly hôn anh nên anh nhất trí ly hôn. Về con chung: Anh và chị P có hai con chung nhƣ chị P đã trình bày. Quan điểm của anh đề nghị Tòa án hỏi nguyện vọng của các con, nếu các con muốn ở cùng chị P thì anh cũng đồng ý để chị P nuôi dƣỡng, còn con muốn ở với anh thì anh sẽ nuôi và không yêu cầu chị P cấp dƣỡng nuôi con cùng anh. Về tài sản chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 06/3/2019, đại diện lãnh đạo UBND xã Đ, Hội phụ nữ xã, Tƣ pháp xã và đại diện lãnh đạo thôn T, xã Đ đều xác định vợ chồng chị P, anh S có mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tin tƣởng nhau trong vấn đề kinh tế, anh S nợ nần nhiều nhƣng không nói cho chị P biết lý do, vì vậy vợ chồng hay xảy ra cãi nhau.

Các con của chị P, anh S là Phạm Xuân V và Phạm Hoàng N đều có nguyện vọng đƣợc ở cùng chị P.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở địa P bày tỏ quan điểm đề nghị Tòa án xem xét việc giao con cho chị P hoặc anh S nuôi dƣỡng theo nguyện vọng của các con vì cả chị P và anh S đều có công việc, thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh S không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 26/3/2019, bị đơn là anh Phạm Văn S đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà này, chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh S và đề nghị đƣợc nuôi cả hai con, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác, anh S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Dƣơng Thị Thu P là đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016: về quan hệ hôn nhân đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dƣơng Thị Thu P xin ly hôn anh Phạm Văn S; về con chung: đề nghị HĐXX giao cả hai con cho chị P nuôi dƣỡng, anh S không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị P; về án phí: chị P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Phạm Văn S đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dƣơng Thị Thu P và anh Phạm Văn S tự nguyện kết hôn và đã đƣợc UBND xã Đ đăng ký, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/11/2003 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trên cơ sở lời khai của chị P, anh S và biên bản xác minh tại địa P, có căn cứ xác định trong cuộc sống chị P và anh S có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, anh chị không có sự tin tƣởng, tôn trọng nhau, thể hiện ở việc anh S nhiều lần vay tiền nhƣng không bàn bạc cũng nhƣ nói rõ lý do với chị P, do đó anh chị thƣờng xuyên xảy ra cãi nhau. Từ cuối năm 2018 đến nay, chị P và anh S đã sống ly thân nhau. Anh S cũng không có thiện chí đoàn tụ cùng chị P, điều này thể hiện ở việc trong quá trình vợ chồng ly thân, anh S cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh S thể hiện quan điểm nhất trí ly hôn với chị P và không đến Tòa án tham gia hòa giải. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện T cũng đề nghị HĐXX xử cho chị P đƣợc ly hôn anh S. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị P, xử cho chị P đƣợc ly hôn với anh S.

Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh S thể hiện quan điểm nếu các con có nguyện vọng ở với chị P thì anh cũng nhất trí. Tại phiên tòa, chị P vẫn đề nghị đƣợc nuôi cả hai con và không yêu cầu anh S cấp dƣỡng. Điều này phù hợp với nguyện vọng của cháu Phạm Xuân V và cháu Phạm Hoàng N, phù hợp với ý kiến của đại diện cơ quan quản lý gia đình và trẻ em ở địa phƣơng và quan điểm của đại diện VKSND huyện T. Do đó, HĐXX giao cả hai cháu Phạm Xuân V và Phạm Hoàng N cho chị P tiếp tục nuôi dƣỡng.

Về quan hệ tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dƣơng Thị Thu P, cho chị Dƣơng Thị Thu P ly hôn anh Phạm Văn S.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Dƣơng Thị Thu P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục các con là Phạm Xuân Vũ, sinh ngày 06/02/2005 và Phạm Hoàng Nam, sinh ngày 18/6/2011 từ tháng 3 năm 2019 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh S cấp dƣỡng nuôi con. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Dƣơng Thị Thu P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000729 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ