- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lượng - Trình"
- Tòa quyết gì? gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 228, điều 238, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HNGĐ -ST Ngày 29/5/2019. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH – TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Tạ Thị Hồng Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa;
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phù Ninh;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 29/5/2019 tại trụ sở TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọ, TAND huyện Phù Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 83/2019/ TLST-HNGĐ ngày 12/4/2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST ngày 14/5/2019 giữa các đương sự:
Nguyªn ®¬n: ChÞ Ph¹m ThÞ L, SN 1987.
N¬i §KHKTT: Khu 1, x· LM, huyÖn PN, tØnh PT.
Hôm nay, vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).
BÞ ®¬n: Anh NguyÔn V¨n Tr, SN 1978.
N¬i §KHKTT: Khu 1, x· LM, huyÖn PN, tØnh PT.
HiÖn ®ang chÊp hµnh ¸n t¹i §éi sè 42, Ph©n tr¹i sè 3, Tr¹i giam QuyÕt
TiÕn.
Hôm nay, vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai Phạm Thị L trình bày: Chị và
anh Nguyễn Văn Tr có được tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 23/12/2005 tại UBND xã PM, huyện PN, tỉnh PT. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng bố mẹ chồng tại khu 1, xã LM, huyện PN, tỉnh PT. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Tr chơi bời, nghiện ma túy chị đã nhiều lần khuyên can nhưng đều không được. Hiện nay anh Tr đang đi chấp hành án tại Trại giam Quyết Tiến, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay không còn quan hệ về mặt tình cảm. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Tr.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh
ngày 10/10/2006. Nếu ly hôn chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.
Anh Nguyễn Văn Tr trình bày: Về thời gian kết hôn và quá trình chung
sống như chị L trình bày. Từ năm 2002 anh nghiện ma túy, chị L có khuyên can nhưng anh chưa bỏ được. Năm 2005 anh bị Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và hiện đang cải tạo tại Trại giam Quyết Tiến. Từ khi anh đi cải tạo vợ chồng không liên lạc với nhau do chị L đi làm ăn xa. Nay chị L xin ly hôn anh không đồng ý vì tình cảm vợ chồng vẫn còn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh
ngày 10/10/2006. Hiện nay cháu đang ở cùng với bố mẹ anh. Nếu ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Phạm Thị L có yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Tr và đề
nghị tòa án giải quyết về con chung khi ly hôn. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Tr kết hôn với nhau trên cơ sở
hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã PM (nay là xã LM), huyện PN, tỉnh PT phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị L trình bày thì vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Tr chơi bời và nghiện ma túy. Hiện nay anh Tr đang đi chấp hành án tại Trại giam Quyết Tiến, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.Về phia anh Tr cho rằng
́ vợ chồng không có mâu thuẫn gì và không đồng ý ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để anh chị về đoàn tụ cùng nhau nhưng phía chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Bản thân anh Tr cũng thừa nhận từ năm 2002 anh bắt đầu nghiện ma túy, gia đình và chị L đã khuyện can nhiều lần nhưng anh không cai nghiện được. Từ khi anh đi chấp hành án vợ chồng không liên lạc với nhau nữa. Tại phiên tòa hôm nay mặc dù chị L có đơn xin xử vắng mặt nhưng quan điểm của chị về quan hệ hôn nhân vẫn giữ nguyên như trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Tr đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho chị L được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Cả chị L và anh Tr xác nhận là vợ chồng có một con
chung là Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh ngày 10/10/2006. Khi ly hôn chị L xin được nuôi cháu L1 và không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về phía anh Tr đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy nguyện vọng xin được nuôi con của chị L là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với pháp luật. Hơn nữa tại bản tự khai cháu L1 cũng có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu xin được ở với mẹ. Mặt khác anh Tr hiện đang đi chấp hành án không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cháu L1 được tốt nhất cần giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Trong quá trình giải quyết vụ
án cả hai anh chị đều xác nhận là không có nên hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.
Tại phiên tòa hônm nay mặc dù cả chị L và anh Tr đều vắng mặt
nhưng đã có đơn xin xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 điều 228 và khoản 1 điều 238 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt đối với anh chị.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có
quan điểm: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Tòa án xử cho chị
Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Tr được ly hôn và giao cháu Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh ngày 10/10/2006 cho chị Lượng trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L.
Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo
quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 228, điều 238, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Tr.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh ngày
10/10/2006 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Thị L.
Hai bên đều có quyền nghĩa vụ như nhau trong việc giáo dục con chung
không ai được ngăn cấm.
- Tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.
Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2017/0001112 ngày 12/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị L đã nộp đủ tền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Tr vắng mặt được quyền kháng cáo
tròn hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai để đề nghị xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND tỉnh, huyện; - THADS huyện Phù Ninh; - Các đương sự; - UBND xã LM; - Lưu: HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Hồng Ngân |