vanban.org

Bản án 09/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh Đỗ Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh H có nghĩa vụ cùng nhau trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Khắc T số tiền nợ gốc là 83.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bị đơn anh Đỗ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Anh Đỗ Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh H có nghĩa vụ cùng nhau trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Khắc T số tiền nợ gốc là 83.
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/DSST
Ngày 29-8-2018
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đương

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hải - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2019/TLST-DS, ngày 24/5/2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-DS ngày 15/7/2019, giữa các đương sự:

1-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1957; nơi cư trú: Khu 03 T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

2-Bị đơn: Anh Đỗ Văn H - sinh năm 1983; nơi cư trú: Khu 07 Đ, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

3-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

3.1- Ông Nguyễn Khắc T- sinh năm: 1952 (Chồng bà Nguyễn Thị N); nơi cư trú: Khu 03 Tiền Phong, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.

3.2- Chị Nguyễn Thị Thanh H- sinh năm 1984 (Vợ anh Đỗ Văn H); nơi cư trú: Khu 07 Đ, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà chị Nguyễn Thị N trình bày: Ngày 10/7/2018 anh Đỗ Văn H có vay của vợ chồng bà số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) và hẹn trong 05 ngày sẽ trả cho bà số tiền trên. Khi vay tiền vì anh H nói vay để đáo hạn ngân hàng nên bà không tính lãi. Đến hạn trả nợ, anh H đã trả được 67.000.000đồng, còn lại 83.000.000đồng đến nay chưa trả. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh H phải trả cho vợ chồng bà 83.000.000đ tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh từ ngày 10/7/2018 cho đến 08/5/2019, theo mức lãi suất là 10,5%/ 1 năm x 301 ngày = 7.186.890đồng tiền lãi. Tổng cộng cả tiền gốc và tiền lãi là 90.186.890 đồng.

Bị đơn là anh Đỗ Văn H trình bày: Ngày 10/7/2018, anh H có vay của vợ chồng bà Nguyễn Thị N 150.000.000đồng. Mặc dù Giấy vay tiền không ghi lãi suất nhưng thực tế là có lãi thỏa thuận miệng, cụ thể là: 3.000đồng/1ngày/ 1.000.000đồng và anh đã trả được 1 tháng tiền lãi là 13.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Mục đích anh vay tiền của vợ chồng bà N là để vợ chồng anh chăn nuôi nhưng do kinh doanh thua lỗ nên chưa có khả năng trả nợ cho vợ chồng bà N. Nay bà N yêu cầu trả số tiền gốc và lãi như trên thì anh nhất trí nhưng đề nghị được trả dần 2.000.000đồng/tháng cho đến khi trả nợ xong cả gốc và lãi.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Khắc T (Chồng bà N) trình bày: Thống nhất với lời trình bày và đề nghị của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Nguyễn Thị Thanh H (Vợ anh Đỗ Văn H) trình bày: Chồng chị là anh Đỗ Văn H đứng ra vay của bà Nguyễn Thị N 150.000.000đồng. Mục đích vay để vợ chồng làm vốn chăn nuôi. Vợ chồng chị đã trả được 67.000.000đồng, còn lại 83.000.000đồng do kinh doanh thua lỗ nên chưa có khả năng trả nợ cho bà N. Nay bà N yêu cầu trả số tiền gốc và lãi như trên thì chị nhất trí nhưng đề nghị được trả dần 2.000.000đồng/tháng cho đến khi trả nợ xong cả gốc và lãi.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N yêu cầu vợ chồng anh Đỗ Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh H phải trả nợ gốc là 83.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất là 10%/1 năm, tính từ ngày 10/7/2018 đến ngày 08/5/2019.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện hợp đồng đều là tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a, g khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 15/7/2018, nguyên đơn biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Ngày 08/5/2019, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, thời hiệu khởi kiện là đúng theo quy định tại điều 429 của Bộ luật dân sự.

. Về yêu cầu, ý kiến của các đương sự:

. Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 10/7/2018, bà Nguyễn Thị N và anh Đỗ Văn H thỏa thuận xác lập hợp đồng vay tài sản với nội dung là anh H vay của bà N 150.000.000đồng với thời hạn vay là 05 ngày và bà N đã giao đủ tiền cho anh H vay. Hình thức và nội dung hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày xác lập. Quá trình thực hiện hợp đồng, do anh H chỉ trả được 67.000.000đồng, còn lại 83.000.000đồng không trả đúng thời hạn như đã thỏa thuận nên anh H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng.

[3.2]. Về lãi suất: Hợp đồng vay tài sản giữa bà N và anh H xác lập ngày 10/7/2018 không thể hiện có lãi. Do vậy, tại phiên tòa bà N yêu cầu tính lãi với mức 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, chỉ chấp nhận tính lãi cho bà N kể từ khi anh H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng là ngày 15/7/2018. Theo đó, tiền lãi tính từ ngày 15/7/2018 đến ngày 08/5/2019 (298 ngày) với mức lãi suất 10%/năm, là 6.870.555,56 đồng (Làm tròn là 6.870.000đồng).

Anh H trình bày là bà N cho vay với mức lãi suất 3.000đồng/1.000.000đồng/1 ngày, nhưng anh H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh, nên không đề cập giải quyết.

.Về nghĩa vụ trả nợ: Hợp đồng vay tài sản giữa bà N và anh H xác lập ngày 10/7/2018 không có chữ ký của vợ anh H là chị Nguyễn Thị Thanh H. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng H, chị Hòa thừa nhận là khoản tiền vay của gia đình bà N được dùng để phát triển khối tài sản chung của gia đình anh chị và anh H, chị H đồng ý cùng có nghĩa vụ trả nợ cho gia đình bà N là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 27; khoản 4 điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

.Về phương thức trả nợ: Bà N yêu cầu vợ chồng anh H, chị Hòa phải trả đủ tiền vay một lần là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 466 của Bộ luật dân sự. Anh H, chị H đề nghị được trả dần theo phương thức như anh chị đã trình bày là không có căn cứ chấp nhận.

. Từ các phân tích trên, cần buộc vợ chồng anh Đỗ Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh H có nghĩa vụ cùng nhau trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Khắc T số nợ gốc là 83.000.000đồng và nợ lãi là 6.870.000đồng, tổng cộng là 89.870.000đồng. Thời hạn trả là kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

. Về án phí: Bị đơn là anh Đỗ Văn H xin chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và đề nghị này không trái pháp luật, đạo đức xã hội, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 463; Khoản 1, 4 Điều 466; Khoản 2 Điều 468 và Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 27; Khoản 4 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/20116 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Anh Đỗ Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh H có nghĩa vụ cùng nhau trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Khắc T số tiền nợ gốc là 83.000.000đồng và tiền lãi là 6.870.000đồng. Tổng cộng là 89.870.000đ (Tám mươi chín triệu tám trăm bẩy mươi nghìn đồng). Thời hạn trả tiền kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Anh Đỗ Văn H phải chịu 4.493.500đ, làm tròn là 4.493.000đ (Bốn triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.254.000đ (Hai triệu hai trăm năm mươi tư nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003256 ngày 24/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hợp lệ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ