vanban.org

Bản án 09/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
huyÖn Yªn Thµnh
TØnh NghÖ An

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè:09/2019/ DSST
Ngày 17 tháng 7 năm 2019

(V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng)

Nh©n Danh

N íc Céng Hoµ X· Héi Chñ NghÜa ViÖt nam

Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Yªn Thµnh - tØnh nghÖ an

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ: ¤ng Vò Anh Ngäc

Héi thÈm nh©n d©n: Ông Nguyễn Hữu Tường – Ông Vũ Hồng Khâm

Th ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: ¤ng Nguyễn Công Hưng - Thư ký Toµ ¸n Nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

§¹i diÖn VKSND huyÖn Yªn Thµnh tham gia phiªn toµ: Không tham gia.

Trong ngày 17/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 03/2019/TLST-DS ngày 04/4/2019 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 101/2019/Q ĐXX - ST ngày 12/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2019/QĐ-HPT ngày 28/6/2019

Gi÷a:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Địa chỉ: Số 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3 Thành Phố Hồ Chí Minh

- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, Chức vụ:

Tổng giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín: Ông Phạm Việt Đức- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thường Tín, chi nhánh Nghệ An.

Nơi công tác: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, chi nhánh Nghệ An, tại số 27, đường Quang Trung, phường Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Ông Phạm Việt Đức ủy quyền lại cho: Ông Bành Trọng Nam, sinh năm 1988

Nơi công tác: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, chi nhánh Nghệ An, phòng giao dịch Diễn Châu, Nghệ An. ( Có mặt)

* Bị đơn: - Ông Lê Văn P - sinh ngày 23/7/1991

Trú tại: xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An

- Bà Lê Thị N, sinh ngày 07/4/1994.

Trú tại: xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An

(Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu được nguyên đơn giao nộp có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì nội dung vụ án thể hiện nội dung:

Sau khi có giấy đề nghị kiêm phương án vay của Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N, thì ngày 15/12/2016 vợ chồng Ông P, Bà N trú tại xóm Bắc Vực xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) tại phòng giao dịch huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An với mục đích vay là sửa chữa nhà với số tiền 400.000.000 đồng (Bằng chữ : Bốn trăm triệu đồng chẵn) theo hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số số: LD1634900122 ngày 15/12/2016, thời hạn vay 96 tháng, đồng thời ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: LD1634900122/HĐTC ngày 15/12/2016 được đăng ký thế chấp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: CB048512, Địa chỉ thửa đất: xóm Bắc Vực, Đô Thành,Yên Thành,Nghệ An, được UBND huyện Yên Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/12/2015 mang tên Ông Lê Văn P và Lê Thị Ngân. Thời hạn vay khoản tiền 400.000.000 đồng là 96 tháng kể từ ngày 15/12/2016, thời hạn trả nợ cuối cùng là vào ngày 14/12/2024. Bên cho vay, bên vay thỏa thuận với nhau được ghi trong hợp đồng tín dụng như sau: Vào ngày 10 hàng tháng thì Ông P, Bà N phải thanh toán số tiền gốc 4.166.000 đồng và khoản lãi phát sinh, lãi trong hạn 11,3 %/ năm, lãi quá hạn 16,95 %/năm. Trong quá trình thực hiện vay thì Ông P, Bà N đã vi phạm hợp đồng tín dụng, kể ngày 10/10/2018 thì Ông P Bà N không thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh theo qui định của hợp đồng, Ngân hàng đã đến tận nhà nhắc nhở và thông báo việc trả nợ nhiều lần nhưng Ông P Bà N vẫn không chịu thanh toán. Do Ông P, Bà N vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng khởi kiện Ông P Bà N để thu hồi nợ trước hạn, đồng thời để nghị tòa án xử lý tài sản thế chấp cho khoản vay.

Từ thời điểm nhận tiền vay đến ngày 09/10/2018 Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N đã thanh toán cho ngân hàng số tiền (gốc /lãi) là: 158.840.646 đồng (trong đó :gốc 91.652.000 đồng; lãi 67.188.646 đồng.Tính đến ngày 16/7/2019 ( trước ngày xét xử 01 ngày) Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N còn phải thanh toán cho ngân hàng số tiền : + Nợ gốc : 308.348.000 đồng + Nợ lãi quá hạn tính đến ngày 16/7/2019 số tiền là 37.996.182 đồng

Tổng cộng 346.344.182 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn, một trăm tám mươi hai đồng )

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ( Còn gọi là Sacombank) đề nghị Tòa án buộc Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N phải thanh toán cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 16/7/2019 là 346.344. 182 đồng ( Bằng chữ : Ba trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn, một trăm tám mươi hai đồng). Trong trường hợp Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Nghệ An – PGD Diễn Châu thì yêu cầu Tòa án bảo thủ tài sản, tuyên bố Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ( Còn gọi là Sacombank) có quyền yêu cầu cơ quan chức năng phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Sau khi phát mãi tài sản đảm bảo mà không đủ trả nợ, thì đề nghị Tòa án buộc Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N tiếp tục có trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N không hợp tác, Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của Ông P, Bà N để lưu tại hồ sơ vụ án. Nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, trình bày của nguyên đơn tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa thì việc Ngân hàng cho Ông P, Bà N vay tiền cơ bản đúng như các nguyên đơn trình đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, được qui định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N bị đơn trong vụ án có mặt tại Tòa án để giải quyết tranh chấp, nhưng Ông P, Bà N không chấp hành, không hợp tác, cố tình vắng mặt.Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Để tiếp tục giải quyết vụ án, Tòa án tiếp tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai người đại diện của nguyên đơn có mặt, bị đơn Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 điều 227, khoản 1 và khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung : Quá trình nghiên cứu các tài liệu chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa thấy rằng khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và xử lý tài sản thế chấp đối với Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N là có căn cứ. Việc vay nợ của Ông P, Bà N đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được chứng minh tại Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1634900122 ngày 15/12/2016, với thời hạn vay 96 tháng, lãi trong hạn 11,3 %/ năm, lãi quá hạn 16,95 %/năm; thể hiện Giấy nhận nợ và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: LD1634900122/HĐTC ngày 15/12/2016 do hai bên đã ký kết, đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Yên Thành. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất, thửa đất số: 1428; Tờ bản đồ số 17, xã Đô Thành- Yên Thành; Địa chỉ: xóm Bắc Vực, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Diện tích 222m2 đã được UBND huyện Yên Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số:CB 048512 ngày 03/12/2015 mang tên Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N.

Thời hạn vay khoản tiền vay 400.000.000 đồng (Bằng chữ : Bốn trăm triệu đồng chẵn) là 96 tháng kể từ ngày 15/12/2016, thời hạn trả nợ cuối cùng là vào ngày 14/12/2024. Theo qui định tại hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần thì Ông P, Bà N phải trả nợ gốc mỗi tháng là 4.166.000đ và khoản lãi phát sinh. Nhưng kể ngày 10/10/2018 đến nay thì Ông P Bà N không thanh toán số tiền gốc và lãi theo qui định của hợp đồng dơ nợ giảm giảm dần, cố tình dây dưa việc trả nợ. Việc cố tình dây dưa việc thanh toán khoản tiền vay theo hợp đồng là sự nhắc nhở của ngân hàng và thông báo về việc thu hồi nợ ngày 19/8/2018 do ngân hàng đã giao nộp có tại hồ sơ. Sau khi thông báo việc thu hồi nợ Ông P, Bà N cũng không chịu thanh toán đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên ngân hàng khởi kiện đòi nợ trước hạn là có căn cứ. đúng pháp luật. Trong thời gian vay thì Ông P, Bà N đã thanh toán được số tiền gốc 91.652.000 đồng; lãi 67.188.646 đồng. Kể từ ngày 10/10/2018 đến ngày 16/7/2019 (trước ngày xét 1 ngày) Ông P, Bà N chưa thanh toán số tiền gốc, lãi suất cho ngân hàng, nên lãi suất được tính theo lãi suất quá hạn. Nay Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín ( Sacombank)Tín yêu cầu Tòa án buộc Ông P, Bà N thanh toán số tiền gốc còn lại là 308.348.000 đồng và lãi quá hạn đến ngày 16/7/2019 ( trước ngày xét xử 1 ngày) với số tiền 37.996.182 đồng là đúng pháp luât, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay: Ngoài việc ký kết hợp đồng tín dụng thì giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và vợ chồng Ông P, bà Ngân còn ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: LD1634900122/HĐTC ngày 15/12/2016, Ông P, Bà N đã thế chấp thửa đất số: 1428, tờ bản đồ số 17, xã Đô Thành- Yên Thành; Địa chỉ: xóm Bắc Vực, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, diện tích 222m2 đã được UBND huyện Yên Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CB048512 ngày 03/12/2015 mang tên Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N để vay tiền của Ngân hàng. Đây là tài sản hợp pháp của Ông P, Bà N được dùng để bảo đảm cho khoản vay, nên cần tiếp tục bảo thủ để đảm bảo cho việc thi hành án khi Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N không trả được nợ cho ngân hàng.

VÒ ¸n phÝ: Do yêu cầu của nguyên đơn được tòa án chấp nhận, nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.Trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Buộc bị đơn Ông Lê Văn P, bà LêThị Ngân ph¶i nép ¸n phÝ dân sự theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

Bởi các lẽ trên.

QuyÕt ®Þnh

- Căn cứ vào Điều 471, 474, 475 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015.

- Căn cứ vào Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011.

Xử: Buộc Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCPSài Gòn Thương tín(Sacombank) tiền gốc là 308.348.000đ ( Ba trăm linh tám triệu,ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng), tiền lãi (tạm tính đến ngày 16/9/2019) là 37.996.182đ(Ba mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi hai đồng). Tổng cả gốc và lãi là 346.344.182đ (Bằng chữ : Ba trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn, một trăm tám mươi hai đồng).

Kể từ ngày 17/8/2019 Ông Lê Văn P Bà Lê Thị N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: LD1634900122 ngày 15/12/2016 của Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nói trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Ông P, Bà N vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ( Sacombank) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N không trả hết số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phát mại tài sản Ông P, Bà N đã thế chấp đối với thửa đất số: 1428, tờ bản đồ số 17, xã Đô Thành- Yên Thành; Địa chỉ: xóm Bắc Vực, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Diện tích 222m2 đã được UBND huyện Yên Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CB 048512 ngày 03/12/2015 mang tên Ông Lê Văn P và Bà Lê Thị N để thu hồi nợ. Sau khi phát mại tài sản thế chấp, nếu tài sản thế chấp vẫn không đủ để trả nợ thì Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N phải tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán hết nợ.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 của BLTTDS; Điều 26 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc vợ chồng Ông Lê Văn P, Bà Lê Thị N ph¶i nép 17.317.209đ (Mười bảy triệu, ba trăm mười bảy nghìn, hai trăm linh chín đồng) ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm. Hoµn tr¶ l¹i tiÒn t¹m øng ¸n phÝ số tiền 7.775.000 đ ( Bảy triệu, bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) theo biªn lai nép tiÒn sè: 0003629 ngµy 03/4/2019 t¹i Chi côc thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn Yªn Thµnh- NghÖ An.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án lên tòa án cấp phúc thẩm trong h¹n 15 ngµy kÓ từ ngày nhận được bản án do tòa án tống đạt.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo b¶n ¸n lên tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú của bị đơn.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM:Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Vũ Anh Ngọc

Cỡ chữ