- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/HSST Ngày 07-02-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Hà
Ông Nguyễn Xuân Thuận
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2017/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Q - Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 19 tháng 5 năm 1985 tại Yên Bái
ĐKHKTT: Tổ 43, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Nơi cư trú: Tổ 43, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Nghề nghiệp: Không
Trình độ văn hóa: 12/12
Dân tộc: Kinh
Giới tính: Nam
Tôn giáo: Không
Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Quang V (đã chết)
Con bà: Đỗ Thị H
Vợ: Hoàng Thị T và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm
2016).
Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt, tạm giam ngày 07-9- 2017, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Đỗ Thị H - Sinh năm 1960 Trú tại: Tổ 43, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Huy C - Sinh năm 1970 Trú tại: Tổ 27, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên vào 12 giờ 30 phút ngày 04-9-2017 Nguyễn Hồng Q đến khu vực đường sắt cắt đường bộ thuộc tổ 36, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, mua của một người đàn ông tên là T, Q không biết tuổi và địa chỉ một gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Q mang về và sử dụng một ít, số ma túy còn lại Q chia cắt nhỏ ra để sử dụng và bán kiếm lời, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05-9-2017, tại nhà để xe của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Yên Bái (điều trị Methadonne thuộc tổ 38 phường H, thành phố Yên Bái), Q bán cho Nguyễn Huy C 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Số ma tuý này C đã sử dụng hết cho bản thân.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 06-9-2017, Q đang ở nhà thì Nguyễn Huy C gọi điện thoại hỏi mua một gói ma túy với giá 200.000 đồng. Q đồng ý và hẹn C đến khu vực cổng Bệnh viện 103 thuộc tổ 44, phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái. Tại đây, khi Q vừa bán cho C 01 gói ma túy, thu được 200.000 đồng thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái bắt quả tang, thu giữ của của Q gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA biển kiểm soát 21B1-178.40; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu tím có số thuê bao 01292294968, máy có IMEI: 352405/05/830927/4 và số tiền 1.470.000 đồng. Thu giữ tại túi quần đang mặc của C: 01 gói giấy trắng có kẻ sọc bên trong có chứa 0,015 gam chất ma tuý loại Heroine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q, Công an thành phố Yên Bái đã thu giữ: 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 0,52gam chất ma tuý loại Heroine; 01 vỏ viên thuốc có chữ SUBUTEX bên trong có chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine; 02 con dao lam và 02 mảnh túi nilon (01 mảnh màu xanh, 01 mảnh màu trắng).
Tại phiên tòa, bị cáo Q thành khẩn khai báo, thừa nhận đã thực hiện hành vi như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Cáo trạng số: 07/KSĐT-MT ngày 08-01-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Hồng Q về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 251 khoản 2 điểm b Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Hồng Q từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đã có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 05-9-2017 và ngày 06-9-2017 Nguyễn Hồng Q đã bán hai lần hai gói chất ma tuý loại Heroine cho Nguyễn Huy C thu được tổng số tiền 400.000 đồng. Ngoài ra, còn tàng trữ trái phép 0,52 gam chất ma tuý loại Heroine với mục đích để bán và sử dụng. Các hành vi này của Q thực hiện trước 0 giờ ngày 01-01-2018, theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì không thuộc trường hợp có lợi hơn tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, nên cần xét xử bị cáo theo Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó, các hình vi nêu trên của bị cáo Q đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xét các hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt. Hành vi của bị cáo cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Xét nhân thân: Bị cáo là người có sức khỏe, có năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ con người nhưng vì mục đích kiếm lời và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên đã thực hiện tội phạm. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tự rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Vì vậy, cần có hình phạt thỏa đáng, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với Nguyễn Huy C là người mua ma túy của Nguyễn Hồng Q để sử dụng. Xét hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với người đàn ông tên là T đã bán ma túy cho Q khu vực đường sắt cắt đường bộ thuộc tổ 36, phường Hồng Hà, thành phố Yên bái. Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ cơ sở để điều tra xử lý.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 21B1-178.40 mang tên Hoàng Thị T. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của chị T không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cơ quan điều tra đã trao trả xe cho chị T là phù hợp.
- Đối với 0,535 gam chất ma tuý loại Heroine thu giữ của Nguyễn Hồng Q và Nguyễn Huy C. Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,44 gam chất ma túy loại Heroine được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái. Xét thấy, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu tím có số thuê bao 01292294968, máy có IMEI: 352405/05/830927/4 thu giữ của Q. Xét thấy, đây là pH tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 1.470.000 đồng thu giữ của Q. Trong đó, có 200.000đồng do bán ma túy mà có, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Còn lại số tiền 1.270.000 đồng là tiền của bà Đỗ Thị H - mẹ đẻ của Q nhờ bị cáo đi trả tiền hàng. Xét thấy, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bà Đỗ Thị H. Cần truy thu của bị cáo số tiền 200.000đồng do bị cáo phạm tội ngày 05-9/2017 mà có để sung quỹ nhà nước.
- Đối với 05 vỏ phong bì + giấy gói; 02 mảnh nilon (01 mảnh màu trắng, 01 mảnh màu xanh) và 02 con dao lam đã qua sử dụng. Xét không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí và các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 194; khoản 1 Điều 41; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 76 và Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 07-9-2017.
3. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Truy thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Q số tiền 200.000đồng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Q số tiền 200.000đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu tím có số thuê bao 01292294968, máy có IMEI: 352405/05/830927/4.
- Trả lại cho bà Đỗ Thị H số tiền 1.270.000 đồng (một triệu, hai trăm, bảy mươi nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu huỷ: 0,44 gam chất ma túy loại Heroine được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; 05 vỏ phong bì + giấy gói; 02 mảnh nilon (01 mảnh màu trắng, 01 mảnh màu xanh) và 02 con dao lam đã qua sử dụng.
4. Về án phí:
Bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND Tp. Yên Bái; - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái; - Chi cục THADS Tp. Yên Bái; - Trại giam; Công an Tp. Yên Bái (02); - Bị cáo; NCQL&NVLQ (3); - Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA (3). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thu Hƣơng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |