vanban.org

Bản án 09/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 22/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng, tài sản: Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28-12-2017 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/HSST
Ngày: 22-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Minh Tân.

2. Ông Nguyễn Đình Cải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 22-01-2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 403/2017/HSST ngày 29-12-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 403/2018/QĐXXST-HS ngày 10-01-2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Cao C, sinh năm 1978.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 8/59 khu Nhà C, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không.

Họ và tên bố: Nguyễn Hồng P, sinh năm 1940.

Họ và tên mẹ: Đỗ Thị G (Đã chết).

Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ năm.

Chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12-7-1996 Toà án nhân dân thành phố N xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; ngày 24-11-1997 Toà án nhân dân thành phố N xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”; ngày 18-5-2000 Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; ngày 19-10-2004 Toà án nhân dân thành phố N xử phạt 45 tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08-11-2017, sau chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.

Bị cáo Nguyễn Cao C có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07-11-2017 Nguyễn Cao C đi đến khu vực ga Nam Định mua của một người tên Hải (Không rõ lai lịch) 07 gói ma túy với giá 500.000 đồng để bán lại kiếm lời. C cất số ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải rồi đi ra đầu ngõ 30 đường Phan Bội C, thành phố N đứng. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Vũ Ngọc C là người sử dụng ma túy đến hỏi mua 01 gói ma túy heroin với giá 100.000 đồng. C đồng ý nhận tiền và vừa giao ma túy cho C thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện, bắt quả tang thu giữ và niêm phong theo quy định của pháp luật của C gói ma túy heroin (Ký hiệu M) và 100.000 đồng của C vừa nhận của C; ngoài ra C còn tự giác giao nộp 06 gói ma túy heroin còn lại trong túi quần bên phải (Ký hiệu M1). Đồng thời đưa C, C và người làm chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Bản kết luận giám định số 860/GĐKTHS ngày 09-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong do Cơ quan điều tra Công an thành phố N trưng cầu giám định ký hiệu M và M1 đều là chất ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng của M là 0,012 gam, tổng khối lượng của M1 là 0,179 gam.

Bản cáo trạng số 10/QĐ-KSĐT ngày 29-12-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Cao C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Bị cáo biết rõ hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì lợi nhuận nên đã đi mua 07 gói ma túy với giá 500.000 đồng để bán lại để kiếm lời, bị cáo đã bán cho Vũ Ngọc C 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng và thừa nhận 06 gói ma túy còn lại cất giữ cũng với mục đích để bán lại kiếm lời. Số tiền 100.000 đồng bị tạm giữ là tiền bán ma túy cho C.

Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Cao C đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã trực tiếp bán cho Vũ Ngọc C 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng và thừa nhận 06 gói ma túy còn lại cất giữ cũng với mục đích để bán lại kiếm lời. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng của 07 gói ma túy heroin bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,191 gam.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Phạt bị cáo Nguyễn Cao C từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù giam. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ năm triệu đồng đến bẩy triệu đồng.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của Vũ Ngọc C và của bị cáo Nguyễn Cao C; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Cao C.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Trong quá trình tranh tụng, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Cao C có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong vật chứng; bản kết luận giám định số 860/GĐKTHS ngày 09-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 07-11-2017, bị cáo đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng 0,012 gam với giá 100.000 đồng cho Vũ Ngọc C và cất giữ trong túi quần 06 gói ma túy, loại ma túy heroin, tổng khối lượng 0,179 gam với mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, làm lan tràn tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi bán và tàng trữ ma túy heroin để bán kiếm lời của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,191 gam, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện trước ngày 01-01-2018 là ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật nên về nguyên tắc hành vi phạm tội của bị cáo được xét xử theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. So sánh mức hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 với khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là không thay đổi nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để Quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng ...”. Xét thấy, bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Vũ Ngọc C có hành vi mua ma túy để sử dụng, xét hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Vũ Ngọc C về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra Công an thành phố N đang xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Số ma túy thu giữ của Vũ Ngọc C và của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; số tiền 100.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 36 (Ba sáu) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08-11-2017.

- Áp dụng khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Phạt tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Cao C.

2. Xử lý vật chứng, tài sản:

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Vũ Ngọc C và của bị cáo Nguyễn Cao C; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Cao C.

Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28-12-2017 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Cao C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

- Áp dụng Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Nguyễn Cao C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ