vanban.org

Bản án 09/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 26/7/2017. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/HSST
Ngày: 25-01-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Bảo Hồng.

2/ Ông Nguyễn Thái Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2018/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 05/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H; giới tính: Nữ; sinh năm: 1989; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: 103K3/12C Đường Đ, Phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 2/12; con ông Nguyễn Văn I và bà Kha Thị Kim P; có chồng là Trần Hữu G (không đăng ký kết hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/9/2011, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Quận 8 ban hành Quyết định số 6181 đưa Nguyễn Ngọc H vào Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Bình Triệu quản lý, giáo dục và chữa bệnh thời gian 24 tháng, đến năm 2013 trở về địa phương.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 26/7/2017. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phan Tấn Hoàng S, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp KĐ, xã TK, huyện CG, tỉnh LA. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, tại trước số 49D/8 Đường Đ, Phường M, Quận X, tổ tuần tra Công an Phường 14 nghi vấn Nguyễn Ngọc H có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra thì phát hiện và thu giữ trong hộc đựng đồ phía trước xe Hayate biển số 54P2-8185 của H 01 hộp giấy có ghi “Crystal perfume oil” bên trong có 07 gói nylon chứa Heroine được hàn kín hai đầu, tạm giữ của H 01 điện thoại di động Nokia gắn sim số 01864.263.954 và 01 xe gắn máy biển số 54P2-8185.

Theo bản kết luận giám định số 1296/KLGĐ-H ngày 22/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong 07 gói nylon (đựng trong 01 hộp giấy có ghi chữ “Crystal perfume oil”) được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Nguyễn Ngọc H và hình dấu Công an Phường M, Quận X gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5386g, loại Heroine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Nguyễn Ngọc H khai nhận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 26/7/2017, H đến nhà số 103K3/12B Đường Đ, Phường M, Quận X thì gặp một người phụ nữ tên Bé Bầu (không rõ lai lịch, địa chỉ), Bé Bầu đưa cho H 01 hộp giấy có ghi chữ “Crystal perfume oil” bên trong có 07 gói nylon chứa Heroine kêu H đi bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại trước số 49D/8 Đường Đ, Phường M, Quận X, còn tiền bán Heroine Bầu đã lấy từ trước, bán xong Heroine về Bầu sẽ cho H 01 gói Heroine để sử dụng thì H đồng ý. Bé Bầu đưa chiếc xe Hayate biển số 54P2-8185 cho H, H để hộp giấy chứa Heroine vào hộc để đồ phía trước xe rồi điều khiển đến trước số 49D/8 Đường Đ, Phường M, Quận X đứng đợi người đàn ông để bán ma túy thì bị tổ tuần tra kiểm tra, phát hiện và thu giữ ma túy như trên.

Xe gắn máy biển số 54P2-8185 tạm giữ của Nguyễn Ngọc H, qua xác minh xác định mang biển số giả, qua giám định xe gắn máy có số máy: F4A5-147609, số khung: RLSCF4EF090105609 không thay đổi, có biển số thật là 62L1-280.20 do anh Phan Tấn Hoàng S đứng tên chủ sở hữu. Khoảng tháng 7/2017, anh S sử dụng xe trên đi công việc ở Quận 8 và bị mất trộm, anh S không nhớ rõ cụ thể địa chỉ bị mất xe, khi mất xe anh S không trình báo. Anh S xin được nhận lại xe.

01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 01864.263.954 của Nguyễn Ngọc H không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 05/01/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tương ứng với khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 03 năm đến 04 năm tù theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong chứa ma tuý, 01 biển số giả số 54P2-8185.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia.

Trả cho anh Phan Tấn Hoàng S 01 xe gắn máy có số máy: F4A5-147609, số khung: RLSCF4EF090105609.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, khoảng 12 giờ 30 ngày 26/7/2017, tại trước số 49D/8 Đường Đ, Phường M, Quận X, Công an thu giữ của Nguyễn Ngọc H 07 gói nylon bên trong có chứa ma tuý ở thể rắn, khối lương 2,5386g, loại Heroine. Đây là ma tuý của Bé Bầu đưa H đi bán, H được Bé Bầu cho ma tuý sử dụng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Hành vi của bị cáo là có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ tên Bé Bầu đưa ma tuý cho H đem đi bán (không xác định được lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có căn cứ để xử lý nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

01 (một) gói niêm phong chứa ma tuý là vật cấm lưu hành, 01 biển số xe gắn máy số 54P2-8185 là biển số giả nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động hiệu Nokia không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe gắn máy có số máy: F4A5-147609, số khung: RLSCF4EF090105609, xe là của anh Phan Tấn Hoàng S đứng tên, anh S khai xe bị mất vào tháng 7/2017 trên địa bàn Quận 8, anh không nhớ cụ thể địa chỉ nơi mất xe, khi mất xe anh S không trình báo cơ quan Công an. Xét thấy, hiện giấy đăng ký xe anh S vẫn đang giữ, do đó có cơ sở xác định chiếc xe gắn máy có số máy, số khung nêu trên vẫn còn thuộc quyền sở hữu của anh S. Do đó, trả lại chiếc xe cho anh S theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 26/7/2017.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu huỷ:

01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1296/2017, bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Nguyễn Ngọc H, hình dấu Công an Phường M, Quận X và chữ ký Giám định viên Phan Tấn Quốc.

01 (một) biển số xe gắn máy số 54P2-8185.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 354148/05/623897/4, có gắn sim số: 01864263954.

Trả cho anh Phan Tấn Hoàng S 01 (một) chiếc xe gắn máy, số máy: F4A5-147609, số khung: RLSCF4EF090105609.

(Theo pH nhập kho vật chứng số 27/PNK ngày 05/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8).

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ