vanban.org

Bản án 09/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 01/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/12/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/HSST
Ngày 01 - 02 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Vũ Tiến Lưỡng. 2.Ông Nguyễn Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện VKS nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/HSST ngày 11 tháng 01 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 08/2018/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Văn V, sinh năm 1981; tên gọi khác: Không; nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Tổ 12, phường N, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 5/12; bố đẻ: Ông Trần Văn C, sinh năm 1955; mẹ đẻ: Bà Lưu Thị T, sinh năm 1956; vợ: Đoàn Thị Thu T, sinh năm 1983; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2017.

Bị cáo Trần Văn V có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 13/12/2017, Trần Văn V xuống khu vực xã Nam Vân, TP. Nam Định với mục đích mua ma túy về sử dụng. V dùng điện thoại liên lạc để gặp một thanh niên không quen biết và mua của người thanh niên này 01 gói nhỏ ma túy đá với giá 200.000 đồng, rồi cất vào túi quần đang mặc để tìm chỗ sử dụng. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang đứng trước cửa nhà nghỉ Đại Nam thuộc địa phận xã Nghĩa An, huyện Nam Trực thì bị Tổ công tác phòng CSĐT tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của V: 01 gói nhỏ túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu V) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen đã cũ.

Tại bản kết luận giám định số 1006/GĐKTHS ngày 14/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất rắn dạng tinh thể, màu trắng, trong 01 phong bì thư được niêm phong ký hiệu V là chất ma túy. Loại chất ma túy Methamphetamine, trọng lượng (khối lượng) 1,302 gam.

Bị cáo Trần Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, truy tố tại bản cáo trạng số: 08/CT - VKS ngày 11 tháng 01 năm 2018 và tại phiên Tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn V với mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số hêroin, có trong 01 phong bì thư số 1006/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Nam Định. Tịch thu sũng quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến, tranh luận gì về bản cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa.

Bị cáo Trần Văn V nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Trần Văn V tại cơ quan CSĐT và tại phiên Tòa, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 13 tháng 12 năm 2017 và bản kết luận giám định số 1006/GĐKTHS ngày 14/12/2017 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/12/2017 tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Đại Nam, thuộc xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Trần Văn V cất giấu trái phép trong người 01 gói ma túy (Methamphetamine) có trọng lượng (khối lượng) 1,302 gam để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, có hình phạt nặng hơn hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội“ tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn V.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh hàng loạt tội phạm khác. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo, rèn luyện bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo Trần Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về vật chứng: Toàn bộ số Methamphetamine , có trong 01 phong bì thư số 1006/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/12/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine có trong 01 phong bì thư số 1006/GĐKTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng hồi 09 giờ ngày 05 tháng 01 năm 2018 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi gửi:

Cỡ chữ