- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Phạm Hùng C "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Phạm Hùng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/HS-ST Ngày: 11-9-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo
Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Khắc Tâm
Ông Hà Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh: Ông Lê Văn Hai – Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2018 tại trụ sở Khu phố 3, thị trấn T (huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An), Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2018/TLST - HS ngày 13/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXXST-HS, ngày 27/8/2018 đối với bị cáo:
- Trƣơng Phạm Hùng C, sinh năm: 1997 tại tỉnh Long An.
Nơi đăng ký thường trú: K1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An;
Nơi ở: K4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An;
Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12;
Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trương Minh H và bà Phạm Thị Kỳ D. Bị cáo chưa có vợ;
Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 16/11/2016 bị Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và ngày 14/9/2017 bị Ủy Ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự”, tất cả đều chưa đóng phạt;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/5/2018, tạm giam ngày 07/6/2018 cho đến nay. Bị cáo có m t tại phiên t a.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Phạm Thanh H, sinh năm: 1996 (Vắng m t)
Địa chỉ: K5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
2. Nguyễn Thái N, sinh năm: 1996 (Vắng m t)
Địa chỉ: ấp K, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
3. Phạm Hoàng G, sinh năm: 1990 (Vắng m t)
Địa chỉ: K2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
4. Phạm Văn L, sinh ngày 15/6/2001 (Vắng m t)
Người đại diện theo pháp luật có ông Phạm Văn B, sinh năm: 1978, là cha ruột (Vắng m t).
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 27/5/2018, Trương Phạm Hùng C do cần ma túy đá sử dụng, nên đã sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen, số sim 01243.464.347 của C gọi đến số sim 0976.644.029 của người bạn tên T đã quen biết trước (không rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua ma túy đá về sử dụng. T đồng ý bán và hẹn C đến địa điểm cầu kênh K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để nhận ma túy đá. Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, C mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, biển số 62E1- 084.88 của Nguyễn Thái N, C điều khiển xe đến cầu kênh K như đã hẹn với T trước đó để mua ma túy, nhưng khi đến cầu kênh K, C không g p T mà g p 01 người thanh niên (C không rõ nhân thân lai lịch, mới g p lần đầu). C đưa cho người thanh niên này số tiền 400.000 đồng, người thanh niên chỉ dẫn C đến 01 cột điện không số để lấy ma túy đá, khi C đi đến cột điện theo chỉ dẫn của người thanh niên thì thấy trên cột điện có 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) có chứa ma túy đá, hàn kín hai đầu được dán dính bằng băng keo trên cột điện, C lấy xuống cất giấu vào trong túi quần và điều khiển xe về nhà trọ tại K1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An do bà T và ông M làm chủ. Tại nhà trọ C lấy một phần ma túy cùng với Nguyễn Thái N đang thuê ở trọ tại ph ng số 02 và Phạm Văn L đem ra sử dụng. Số ma túy c n lại trong ống nhựa C hàn kín 02 đầu lại rồi cất giấu trong túi quần trước bên phải đang m c và không cho ai biết.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/5/2018, Phạm Thanh H là bạn của C điện thoại hỏi C có ma túy không đem ra khu vực hồ bơi “T” thuộc khu dân cư K1, thị trấn T, huyện T để cùng nhau sử dụng, do c n đang cất giấu ma túy trong người nên C đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, C mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, biển số 62E1- 084.88 của Ng, điều khiển đi đến địa điểm hẹn với H, khi C đi đến nội ô Khu dân cư K1, thị trấn T thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng trong túi quần bên phải của C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số sim 01243.464.347, số Imei 354338046374712; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 62E1- 084.88.
Tại Kết luận giám định số 2333/C54B ngày 29/5/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc trắng được hàn kín hai đầu được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4550 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo đã nhìn nhận hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 09/QĐ-KSĐT ngày 13/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên t a vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trương Phạm Hùng C t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Do điều kiện kinh tế bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,3371 gam c n lại sau khi giám định được niêm phong; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số sim 01243.464.347.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vào khoảng 23 giờ 10 phút, ngày 27/5/2018 sau khi liên lạc bằng điện thoại di động với người bạn tên T (không rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy về sử dụng, bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến địa phận thuộc xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để mua ma túy dạng đá. Tại đây bị cáo mua ma túy với số tiền 400.000 đồng của 01 thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch). Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 28/5/2018, bị cáo cất giấu ma túy trong người và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, biển số 62E1- 084.88 đi ra khu vực hồ bơi “T” thuộc Khu dân cư K1, thị trấn T, huyện T để cùng sử dụng ma túy với người bạn tên Phạm Thanh H, khi bị cáo đi đến nội ô Khu dân cư K1, thị trấn T thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ: 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc trắng được hàn kín hai đầu, có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy. Theo Kết luận giám định số 2333/C54B ngày 29/5/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4550 gam, loại Methamphetamine. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trên 0,1 gam dưới 05 gam, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo cũng th a biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thễ chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất,mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục bị cáo và ph ng ng a chung.
Xét về nhân thân bị cáo: Ngày 16/11/2016 bị Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và ngày 14/9/2017 bị Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự”, tất cả đều chưa được đóng phạt.
Xét về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không.
Xét về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, do đó bị cáo c n được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Xét thấy hiện nay hoàn cảnh kinh tế của bị cáo và gia đình có khó khăn, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về tang vật thu giữ: chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,3371 gam c n lại sau khi giám định được niêm phong, nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số sim 01243.464.347, số Imei 354338046374712 do bị cáo sử dụng liên lạc để mua ma túy, nên tịch thu sung ngân sách, là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 62E1- 084.88, số khung: 032070, số máy: 032071 của Nguyễn Thái N, bị cáo mượn đi rồi sau đó sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, nhưng Ngọc hoàn toàn không biết. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh đã xử lý vật chứng trả lại cho N. Xét thấy là phù hợp.
Đối với Nguyễn Thái N, Phạm Văn L ngày 28/5/2018 có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hành vi này không phải là tội phạm nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và L là phù hợp.
Bị cáo C khai nhận mua ma túy của người bạn tên T và 01 người thanh niên (đều không rõ nhân thân lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cũng không xác định được nhân thân lai lịch của những người này nên không có đủ căn cứ tách vụ án để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật. Xét thấy là phù hợp.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Trương Phạm Hùng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Trương Phạm Hùng C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính t ngày 29/5/2018.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,3371 gam c n lại sau khi giám định được niêm phong
Tịch thu sung ngân sách 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số sim 01243.464.347, số Imei 354338046374712.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện T đang tạm giữ.
3. Về án phí: bị cáo Trương Phạm Hùng C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Tân Thạnh; - VKSND tỉnh Long An; - Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Thạnh; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Thạnh; - TAND tỉnh Long An; - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Bảo |