vanban.org

Bản án 09/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 06/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Xuân Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt chính: Xử phạt Hà Xuân Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 02 tháng 01 năm 2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Xuân Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Xuân Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/HS-ST
Ngày: 06/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------------------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Trường Giang

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu Ngọc Vạn – Chủ tịch Hội nông dân huyện Ninh Giang

2. Ông Đào Kim Đạm – Chủ tịch MTTQ xã Hiệp Lực

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

HÀ XUÂN Đ – SN 1978 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện N, Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn K và bà Chu Thị L; có vợ là Trần Thị D (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2018, đến ngày 05/01/2018 chuyển tạm giam tại trại giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ NLC1 - SN 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu 3, thị trấn N, huyện N, Hải Dương

+ NLC2 - SN 1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện U, Hà Nội

+ NLC3 - SN 1966 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện N, Hải Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2018, tại khu vực cây xăng, ven đường 37 thuộc địa phận thôn G, xã Đ, huyện Ninh Giang tổ công tác Công an huyện Ninh Giang phát hiện Hà Xuân Đ có biểu hiện nghi vấn, nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ 01 đoạn ống nhựa, dạng ống mút, màu trắng, gắn kín hai đầu, kích thước khoảng 0,5cm x 5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, dạng cục. Đ khai là ma túy tổng hợp dạng đá, mục đích mua về để sử dụng. Công an huyện Ninh Giang đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ ma túy và chiếc xe moto BKS 34M8-9231.

Quá trình điều tra, Hà Xuân Đ khai nhận: Vào chiều ngày 02/01/2018, Đ điều khiển xe moto BKS 34M8-9231 đến khu vực cây xăng, thuộc địa phận thôn G, xã Đ, huyện N mua ma túy đá của một thanh niên không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 500.000đ. Đ vừa mua xong ma túy thì bị bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số 95/KLGĐ-PC54 ngày 05/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Tinh thể dạng cục, màu trắng, thu giữ của Hà Xuân Đ là Methamphetamine, trọng lượng 0,154 gam.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 15/3/2018, VKSND huyện Ninh Giang truy tố Hà Xuân Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt Hà Xuân Đ từ 15 đến 18 tháng tù; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì dán kín niêm phong; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2018, tại khu vực cây xăng, ven đường 37 thuộc địa phận thôn G, xã Đ, huyện N, Hà Xuân Đ có hành vi cất giấu trong người 0,154 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng.

Xét thấy, Hà Xuân Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ việc cất giấu trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hà Xuân Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKS huyện Ninh Giang thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Hà Xuân Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc, áp dụng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ quy định của BLHS, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn tới các bệnh hiểm nghèo và các loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma tuý, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Do Hà Xuân Đ không có thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì dán kín niêm phong, bên trong chứa ma túy là vật cấm lưu hành, cần phải tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với chiếc xe moto BKS 34M8-9231 là tài sản thuộc quyền sở hữu của NLC1. Xét thấy, việc Đ mượn chiếc xe này để sử dụng vào việc phạm tội, anh NLC1 không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe moto BKS 34M8-9231 cho chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật, nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Trong vụ án này, Hà Xuân Đ khai mua ma túy của một người, không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định pháp luật, nên được coi là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Tuyên bố bị cáo Hà Xuân Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Hà Xuân Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 02 tháng 01 năm 2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì dán kín niêm phong, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang và Chi cục Thi hành án huyện Ninh Giang.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Hà Xuân Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ