- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Tâm Y xin ly hôn anh Phạm Tuấn A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Tâm Y được ly hôn anh Phạm Tuấn A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2018. V/v tranh chấp HNGĐ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đức Toàn.
2. Bà Phạm Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái
Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2017/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2017 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19/01/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tâm Y, sinh năm: 1992
ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 42, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Anh Phạm Tuấn A, sinh năm: 1991
ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 39, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*) Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/10/2017, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì nguyên đơn: Chị Trần Thị Tâm Y trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:
Chị và anh Phạm Tuấn A tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố T ngày 09/3/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình anh Anh tại tổ 39, phường H, thành phố T. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi chửi nhau, đã hai lần do say rượu anh A đã đánh chị làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp, anh A không quan tâm chăm sóc vợ con. Đầu tháng 01/2017, mâu thuẫn vợ chồng trở nên đỉnh điểm nên chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Nay chị xác định mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Tuấn A.
Về con chung: Chị và anh A có một con chung là Phạm Ngọc H, sinh ngày 02/3/2016, hiện nay con đang ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Ngọc H, yêu cầu anh A cấp dưỡng cho con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Hiện nay chị đang là nhân viên tại Công ty TNHH MTV xuất nhập khẩu tổng hợp Thái Bình, thu nhập bình quân hàng tháng của chị từ 3.000.000đ đến 3.500.000đ, bố mẹ chị còn khỏe sẽ hỗ trợ chị trong việc nuôi dạy và chăm sóc các con, hơn nữa, con của chị dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc của chị. Chị có đủ điều kiện nuôi dạy con, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.
Về tài sản chung: Chị và anh A không có tài sản chung, không nợ ai tài sản gì, cũng không có tài sản cho người khác vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
*) Bà Ngô Thị D, sinh năm 1964, trú tại tổ 39, phường H, thành phố T (là mẹ đẻ của anh Phạm Tuấn A) trình bày:
Anh Phạm Tuấn A là con trai bà, có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú cùng địa chỉ với gia đình bà. Anh Phạm Tuấn A và chị Trần Thị Tâm Y sau khi kết hôn sinh sống cùng gia đình bà, trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xô xát. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Tuấn A bán hàng ăn đêm thường xuyên không về. Đến tháng 05/2017 chị Y đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống đến nay, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Khi Tòa án gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Tuấn A bà đã chuyển trực tiếp cho anh Tuấn A và đã hỏi anh A về việc chị Y xin ly hôn thì anh A nói với bà là đồng ý ly hôn.
Anh Tuấn A và chị Y có một con chung là Phạm Ngọc H, sinh ngày 02/3/2016, từ khi anh A và chị Y ly thân thì cháu H ở cùng chị Y. Việc ai là người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con như thế nào bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tài sản chung và công nợ của anh Tuấn A và chị Y như thế nào bà không nắm được.
*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 147; 203; 235; 238; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Tâm Y được ly hôn anh Phạm Tuấn A.
+ Về con chung: Xử giao con Phạm Ngọc H, sinh ngày 02/3/2016 cho chị Trần Thị Tâm Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Tuấn A phải cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng kể từ tháng 01/2018 cho dến khi con tròn 18 tuổi.
+ Về tài sản chung: Do anh Phạm Tuấn A chưa có lời khai về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Khi nào các đương sự có yêu cầu thì được xem xét, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
+ Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
+ Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để trình bày lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn là anh Phạm Tuấn A không trình bày lời khai và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn là chị Trần Thị Tâm Y có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án xét xử trong trường hợp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị Tâm Y và anh Phạm Tuấn A được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp, anh Tuấn A có đánh chị Y làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đến tháng 5/2017 chị Y đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị Y và anh Tuấn A ngày càng căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Trần Thị Tâm Y được ly hôn anh Phạm Tuấn A là đúng pháp luật.
Về con chung: Chị Y và anh Tuấn A có một con chung là Phạm Ngọc H, sinh ngày 02/3/2016, hiện nay con đang ở cùng chị Y. Ly hôn, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con và yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng. Xét yêu cầu này của chị Y, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi vợ chồng ly thân đến nay thì chị Y đã nuôi dưỡng và chăm sóc con chu đáo, chị Y có thu nhập ổn định, có chỗ ở, bố mẹ chị Y hỗ trợ trong việc chăm sóc con, hơn nữa, con dưới 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc của chị Y nên cần xử giao con Phạm Ngọc H, sinh ngày 02/3/2016 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tuấn A phải cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng kể từ tháng 01/2018 cho đến khi con tròn 18 tuổi lµ phï hîp víi quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 81, 82, 83, 84 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh.
Về tài sản: Do anh Phạm Tuấn A chưa có lời khai về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Khi nào các đương sự có yêu cầu thì được xem xét, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Chị Y phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Tuấn A phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Căn cứ nhận xét trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều: 147; 203; 235; 238; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Tâm Y được ly hôn anh Phạm Tuấn A.
2. Về con chung: Xử giao con Phạm Ngọc H, sinh ngày 02/3/2016 cho chị Trần Thị Tâm Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Tuấn A phải cấp dưỡng cho con 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 01/2018 cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Chị Y và anh Tuấn A có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Trần Thị Tâm Y phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị Y đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0006743 ngày 08/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T thành án phí. Anh Phạm Tuấn A phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP.Thái Bình; - Chi cục THADS TP.T; - UBND phường H, TPT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hồng Thái |