vanban.org

Bản án 09/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!HUYỆN!LỆ!THỦY!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!- Tự!do!- !Hạnh!phúc
!TỈNH!QUẢNG!BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13/4/2018
"V/v Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con”

NHÂN!DANH!

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!!!!!!!!!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!LỆ!THỦY-!TỈNH!QUẢNG!BÌNH!

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhàn Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Việt

2. Ông Lê Quang Thạch -Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 238/2017/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo đơn ly hôn ngày 20/11/2017, bản tự khai ngày 12/12/2017 cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Trương Thị T đều trình bày: Chị và anh H trước đây yêu nhau và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 13/7/2000. Vợ, chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H thay đổi tính tình thường xuyên uống rượu bê tha, gây gổ, đánh đập vợ con. Chị đã chịu đựng bỏ qua nhiều lần để vun đắp xây dựng hạnh phúc và cũng đã nhiều lần gia đình hai bên góp ý, khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi mà đối xử với chị ngày càng thậm tệ hơn. Hiện tại tình cảm giữa chị và anh H thực sự đã hết. Hai người đã ly thân nhau đã 05 tháng nay không ai còn quan tâm gì đến ai nữa. Để yên ổn cuộc sống của mấy mẹ con và các con yên tâm học hành, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H.

Con chung: Chị T trình bày vợ chồng có 3 con chung: Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/01/2002; Nguyễn Thị H2, sinh ngày 11/3/2004 và Nguyễn Thế N, sinh ngày 02/8/2012. Ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 3 con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, vì chị đủ khả năng, điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cũng như các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn với nhau ngày 13/7/2000 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H thường hay rượu trà bê tha, đánh đập vợ con, không quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình. Chị T cũng như gia đình hai bên đã nhiều lần vận động, góp ý nhưng không có kết quả nên chị và các con đã về sống bên nhà bố mẹ đẻ của chị kể từ tháng 10/2017 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai nữa. Anh H không chấp hành các thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa lần thứ hai, qua đó thể hiện anh H cũng không quan tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị T nữa. Chị T xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn.

Xét thấy, tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn nhau là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]Về con chung:

Chị T, anh H có ba con chung: Ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con vì chị đủ khả năng, điều kiện nuôi con. Anh H vắng mặt nhiều lần nên không thể hiện ý chí nguyện vọng gì về con nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T giao cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con, không buộc anh H cấp dưỡng nuôi con vì chị T đủ khả năng, điều kiện nuôi con và không có yêu cầu là phù hợp với các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của các con.

[2.3]Tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4].Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT!ĐỊNH:!

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn H được ly hôn nhau.

2.Về con chung: Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử giao cho chị Trương Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ba con: Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/01/2002; Nguyễn Thị H2, sinh ngày 11/3/2004 và Nguyễn Thế N, sinh ngày 02/8/2012. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T đủ khả năng, điều kiện nuôi con và không yêu cầu. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số: 0001656 ngày 22/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ. Chị T đã nộp đủ án phí.

Chị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 13/4/2018, anh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ