vanban.org

Bản án 09/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị T được ly hôn anh Hồ Trung N.

Về con chung: Giao cháu cháu Hồ Lan U, sinh ngày 17/12/2005 và Hồ Hà L, sinh ngày 10/10/2011 cho chị Hồ Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hồ Trung N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Th - Hồ Trung N "ly hôn, tranh chấp con khi ly hôn""
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị T được ly hôn anh Hồ Trung N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2018
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Biên.

Bà Hồ Thúy Vinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Lâm – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2018/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST – HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị T, sinh năm 1984.

Nơi ĐKHKTT: khối 3B, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Trung N, sinh năm 1974.

Nơi ĐKHKTT: khối 3B, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2018 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Hồ Thị T trình bày: Chị Hồ Thị T và anh Hồ Trung N tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hay cải vả nhau, cuộc sống không hạnh phúc vì anh Nguyên không có trách nhiệm chăm lo đời sống gia đình, thường xuyên rượu chè. Hiện tại, vợ chồng không còn chung sống, chăm lo cho đời sống của nhau. Nhận thấy tình cảm không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Hồ Trung N.

Về con chung: Có 02 con chung. Khi ly hôn chị Hồ Thị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Hồ Lan U, sinh ngày 17/12/2005 và Hồ Hà L, sinh ngày 10/10/2011. Chị Hồ Thị T không yêu cầu anh Hồ Trung N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Chị Hồ Thị T không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Hồ Trung N không có mặt theo văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại Biên bản lấy ý kiến của cháu Hồ Lan U vào ngày 13/4/2018, cháu U xác định nguyện vọng của cháu là yêu cầu được tiếp tục sống cùng chị Thơn.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán, Thư ký được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã được thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa được tiến hành công khai, công bằng. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự. Đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 48, 51, 203 của BLTTDS năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tại phiên tòa, xét thấy: Chị Hồ Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Trung N. Thấy tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, áp dụng khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Hồ Trung Nguyên.

Về con chung: Nguyện vọng của chị Hồ Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng các con là Hồ Lan U và Hồ Hà L. Không yêu cầu anh Nguyên đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Thấy nguyện vọng của chị Hồ Thị T là xác đáng và các con đang ở với chị Thơn phát triển bình thường nên cần áp dụng Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình giao các con cho chị Hồ Thị T nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Thơn không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị T giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: trích lục kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh con Hồ Lan U và Hồ Hà L (bản sao, chứng thực); Đơn xin xác nhận nghề nghiệp (bản chính), sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Hồ Trung N, Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hồ Thị T (bản sao, chứng thực). Bị đơn anh Hồ Trung N không giao nộp tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trực tiếp cấp, tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Hồ Trung N và anh Nguyên đã ký nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến gì. Tại phiên tòa, anh Nguyên vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh Hồ Trung N.

Đối với yêu cầu của chị Hồ Thị T, HĐXX thấy: Chị Hồ Thị T và anh Hồ Trung N tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND xã H, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Thấy mâu thuẫn xảy ra từ lâu, hiện tại vợ chồng không còn sống chung, không chăm lo cho nhau nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Hồ Thị T được ly hôn anh Hồ Trung N.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Hồ Thị T và anh Hồ Trung N có 02 con chung là cháu Hồ Lan U, sinh ngày 17/12/2005 và Hồ Hà L, sinh ngày 10/10/2011. Thấy chị Hồ Thị T có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Cháu U có văn bản trình bày ý kiến nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ, nên cần giao cháu cả hai cháu cho chị Thơn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị T không yêu cầu anh Hồ Trung N phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về chia tài sản chung: Chị Hồ Thị T không yêu cầu giải quyết.

Đối với ý kiến về việc giải quyết của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như phần tranh luận tại phiên tòa.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị Hồ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và Gia đình và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, quyết định:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị T được ly hôn anh Hồ Trung N.

2. Về con chung: Giao cháu cháu Hồ Lan U, sinh ngày 17/12/2005 và Hồ Hà L, sinh ngày 10/10/2011 cho chị Hồ Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hồ Trung N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí DSST: Chị Hồ Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2014/0007066 ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Chị Bùi Thị Bài đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Chị Hồ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/6/2018). Anh Hồ Trung N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ