- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị Ngọc Đ - Nguyễn Bùi H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Võ Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/DS -ST Ngày: 19/6/2018 V/v: “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và yêu cầu đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN D
NƢỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- - - - - - -
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị C
2. Ông Lê Văn D
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu B - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 35/2017/TLST-DS ngày 20/7/2017 về việc “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và yêu cầu đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1972
Và anh Võ Văn D, sinh năm 1971
Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã A, thành phố P, tỉnh G.
- Đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Thị P, sinh năm 1977
Địa chỉ: Tổ 7, phường Y, thành phố P, tỉnh G
(Văn bản ủy quyền lập ngày 20/4/2018 tại Văn phòng công chứng P)
Bà P có mặt.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Bùi H, sinh năm: 1954
Địa chỉ: 222 Hùng Vương, phường H, thành phố P, tỉnh G.
Có mặt.
* Ngư i c quyền l i ngh a vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Phƣớc V, sinh năm 1980
Địa chỉ: 222 Hùng Vương, phường H, thành phố P, tỉnh G.
Có mặt.
2. Anh Nguyễn Đình H V, sinh năm 1984
Địa chỉ: 222 Hùng Vương, phường H, thành phố P, tỉnh G.
Có mặt.
3. Anh Nguyễn Đình H V, sinh năm 1987
Địa chỉ: 222 Hùng Vương, phường H, thành phố P, tỉnh G.
Anh V ủy quyền cho anh Nguyễn Đình H V tham gia tố tụng (theo văn bản ủy quyền lập ngày 21/3/2018 tại Văn phòng công chứng B, thành phố H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các bản khai, biên bản hoà giải và tại phiên tòa, nguyên đơn (đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) trình bày:
Ngày 26/5/2005, vợ chồng chị Đ và anh D có nhận chuyển nhượng diện tích 3.000m2 đất của ông Bùi Văn C tại thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh G với giá chuyển nhượng là 180.000.000đ. Đến ngày 07/11/2005 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 cho chị Đ và anh D với diện tích được cấp là 2.640m2 thuộc tờ bản đồ số 61, thửa đất số 261c. Trên đất đã có sẵn nhà đất, 170 cây cà phê và một số cây ăn trái. Chị Đ và anh D chăm sóc, thu hoạch được 3 năm, sau đó do điều kiện gia đình ở xa và đang nuôi con nhỏ, không tiện chăm sóc nên chị Đ và anh D đã cho ông Nguyễn Bùi H và bà Nguyễn Thị D là dì dượng của chị Đ mượn toàn bộ diện tích đất nhà nêu trên để canh tác, chăm sóc cà phê, cây ăn trái. Toàn bộ các sản lượng thu hoạch trên đất thì dì dượng chị Đ hưởng chứ chị Đ và anh D không lấy đồng nào. Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ thuế đất đối với Nhà nước là do vợ chồng chị Đ và anh D là người thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011, còn từ năm 2012 đến nay chị Đ và anh D không đóng được là do chưa có quy định cụ thể về việc thu nộp thuế nên ông D thôn trưởng thôn C nói với chị Đ và anh D khi nào có thông báo nộp thuế thì sẽ thông báo cho chị Đ và anh D xuống nộp.
Năm 2007, do chị Đ hay đi buôn bán chợ đêm nên có gửi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà đất ở thôn 8, xã A, thành phố P và nhà đất ở thôn C, xã K, huyện Đ cho dì chị Đ là bà Nguyễn Thị D giữ hộ. Bìa đỏ ở thôn 8, xã A anh chị đã lấy lại nhưng không nhớ rõ thời gian.
Năm 2011, dì dượng chị Đ bảo chị Đ cho họ mượn giấy tờ lô đất tranh chấp nêu trên đi thế chấp Ngân hàng vay vốn làm ăn thì vợ chồng chị Đ và anh D đồng ý nhưng khi đi thế chấp thì lại yêu cầu vợ chồng chị Đ và anh D ký thủ tục sang tên qua cho Nguyễn Đình H V là con trai ông H bà D nên vợ chồng chị Đ và anh D không đồng ý và yêu cầu họ trả lại giấy tờ cũng như nhà đất cho chị Đ và anh D nhưng họ không trả. Vì vậy, chị Đ và anh D khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc họ phải trả lại tài sản nhà đất và các tài sản trên đất cũng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 07/11/2005 cho vợ chồng chị Đ và anh D.
Tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai, đơn yêu cầu phản tố, biên bản hoà giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Bùi H trình bày: Vào năm 2005, vợ chồng ông là Nguyễn Bùi H và bà Nguyễn Thị D có đưa số tiền 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng cho chị Nguyễn Thị Ngọc Đ để nhờ chị Đ đi mua đất tại Thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh G. Chị Đ đã dẫn bà D đi xem đất (Sau này ông bà mới biết đất đó mua của ông Bùi Văn C). Chị Đ tự đứng ra làm thủ tục, giấy tờ và anh D và chị Đ tự ý đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 do UBND huyện Đ cấp ngày 07/11/2005 với diện tích được cấp là 2.640m2 thuộc tờ bản đồ số 61, thửa đất số 261c.
Khi phát hiện ra chị Đ tự mình đứng tên trong giấy chứng nhận QSD đất thì ông bà đã yêu cầu chị Đ trả lại giấy chứng nhận QSD đất, làm thủ tục sang tên qua cho ông bà nhưng chị Đ không thực hiện mà nói với ông bà là “dì dượng không tin vợ chồng con sao, khi nào bán đất tụi con ký bán cho, khỏi phải sang tên lại cho cho tốn tiền, tốn công”. Tuy nhiên, năm 2005 chị Đ cũng đã giao trả cho ông bà Giấy chứng nhận QSD đất này. Ông H bà D và các con của ông bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng và canh tác trên mảnh đất này. Ông bà đã nhiều lần yêu cầu chị Đ làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSD đất cho ông bà nhưng chị Đ có ý định chiếm đoạt, không thực hiện nên con ông bà là Nguyễn Đình H V đã nhiều lần đến nhà chị Đ cũng như gọi điện thoại nói chuyện với chị Đ về vấn đề này. Vì sợ sau này không có chứng cứ để chứng minh sự việc trên nên V đã tiến hành ghi âm các cuộc nói chuyện với chị Đ và tại các nội dung ghi âm đó, chị Đ đã thừa nhận vợ chồng chị đứng ra mua đất giùm cho vợ chồng ông bà.
Trước đây, khi giải quyết sơ thẩm tại TAND huyện Đ, ông bà có giao thẻ nhớ gốc ghi âm các nội dung nói chuyện giữa Vinh và chị Đ, tuy nhiên không hiểu vì lý do gì mà các nội dung ghi âm trong thẻ nhớ này bị mất. Nhưng cũng may mắn là anh V vẫn còn lưu giữ các nội dung cuộc gọi này trong các địa chỉ gmail và đĩa CD lưu tại nhà. Vì vậy, anh V đã tiếp tục sao lưu các bản ghi âm này nộp lại cho Tòa án. Theo như kết quả giám định trước đây đã kết luận giọng nói người phụ nữ nói chuyện với V có trong nội dung ghi âm là giọng nói của chị Đ, hiện nay chị Đ cũng đã tự thừa nhận là giọng nói của chị. Như vậy, nội dung ghi âm là sự việc có thật, thể hiện đúng bản chất của vấn đề nên ông H đề nghị Tòa án xem xét bác yêu cầu khởi kiện của chị Đ và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông là xác định ông và các con là những người có quyền sử dụng đất và là những người có quyền được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích đất này.
Đối với số vàng 05 chỉ mà chị Đ khai có đưa cho ông H bà D, chị Đ xác định đây là khoản vay nợ không liên quan đến việc mua bán đất, ông H đồng ý. Nếu chị Đ yêu cầu trả thì ông sẽ trả nhưng do chị Đ không yêu cầu trả ngay nên khi nào chị Đ đòi ông sẽ trả.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, những người có quyền l i nghĩa v liên quan là Nguyễn Thị Phước V, Nguyễn Đình H V, Nguyễn Đình H V trình bày: Chị V, anh V và anh V đều thống nhất với lời trình bày và ý kiến của ông Nguyễn Bùi H. Đề nghị Tòa án xem xét bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, xác nhận ông H và các con là những người có quyền sử dụng đất và là những người có quyền được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích đất này theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐ XX căn cứ các điều 26, 35, 39, 147 BLTTDS 2015; các điều 169, 173, 256 BLDS 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn;
Xác định ông H và các con gồm Nguyễn Thị Phước V, Nguyễn Đình H V và Nguyễn Đình H V là những người có quyền sử dụng đối với tài sản tranh chấp trong vụ án và có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận QSD đất; kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ thu hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 đã cấp ngày 07/11/2005 cho bà Đ và ông D.
Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; chi phí giám định, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản và theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quyền khởi kiện, nội dung và hình thức đơn khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Tài sản tranh chấp trong vụ án là đất và các tài sản khác trên đất có tại thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh G. Bà Đ và ông D là người có quyền khởi kiện; đơn khởi kiện với đơn khởi kiện về hình thức và nội dung đảm bảo; bà Đ và ông D ủy quyền cho bà Trương Thị Phụng tham gia tố tụng giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật; Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất, nhà, tài sản khác gắn liền với đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang do bị đơn chiếm giữ nên quan hệ tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và yêu cầu đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 173, 169, 256 Bộ luật dân sự năm 2005.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, nguyên đơn (đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã cung cấp toàn bộ các tài liệu liên quan đến việc chuyển nhượng đất và các tài sản gắn liền với đất giữa nguyên đơn với ông Bùi Văn C. Theo đó, vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc Đ ông Võ Văn D là người nhận chuyển nhượng diện tích 3.000m2 đất của ông Bùi Văn C tại thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh G với giá chuyển nhượng là 180.000.000đ. Đến ngày 07/11/2005 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 cho bà Đ ông D với diện tích được cấp là 2.640m2 thuộc tờ bản đồ số 61, thửa đất số 261c (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận); Các chứng cứ cũng như lời khai của nguyên đơn là phù hợp với lời khai của ông Bùi Văn C có tại hồ sơ vụ án, ông C xác nhận ông chuyển nhượng toàn bộ tài sản trên là cho chị Đ và anh D, ông cũng là người đã làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao cho chị Đ và anh D và nhận đủ số tiền chuyển nhượng; Bà Thái Thị L là vợ ông C cũng nhất trí với lời khai của ông C và không có khiếu nại gì về việc ông C một mình đứng ra chuyển nhượng tài sản cho chị Đ và anh D. Căn cứ vào trình tự, thủ tục do các bên đã thực hiện là đúng quy định, nên ngày 07/11/2005, Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 cho bà Đ và ông D là khách quan, có căn cứ. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Tuy nhiên, theo nội dung tài liệu, chứng cứ là nội dung các file ghi âm do anh Nguyễn Đình H V cung cấp, được bà Đ thừa nhận tại Biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 07/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ (bà Đ khẳng định giọng nói trong nội dung ghi âm là của bà Đ và anh V cùng một số người khác) thì thấy rằng: Trước đây, Tòa án nhân dân huyện Đ đã từng tiến hành cho trưng cầu giám định tiếng nói của người phụ nữ được ghi âm trong thẻ nhớ có phải là của chị Đ hay không, nhưng hiện nay chị Đ đã thừa nhận đó là giọng nói của chị nên không cần thiết phải giám định nữa và đây là chứng cứ cho việc giải quyết vụ án. Theo nội dung ghi âm, chị Đ thừa nhận có đứng ra mua đất giúp cho vợ chồng ông Nguyễn Bùi H và bà Nguyễn Thị D diện tích đất có chiều ngang 30m tại Đ với giá trị chuyển nhượng là 180.000.000đ, trong tổng số tiền này chị Đ cho rằng có góp vào trị giá của 05 chỉ vàng. Như vậy, lời khai của ông H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc chị Đ chỉ là người được vợ chồng ông H và bà D nhờ làm thủ tục mua bán, đứng tên trong giấy tờ mua bán là phù hợp với chứng cứ đã cung cấp. Mặt khác, chị Đ cũng đã thừa nhận, ngoài tranh chấp này ra thì giữa nguyên đơn và bị đơn không còn tranh chấp nào khác liên quan đến đất và các tài sản trên đất (BL 68-69). Như vậy, tài sản tranh chấp trong vụ án này chính là tài sản được đề cập đến trong nội dung ghi âm và qua nội dung ghi âm đã phản ánh đúng sự thật khách quan về tranh chấp giữa các bên trong vụ án này. Ngoài ra, khi phát hiện việc chị Đ và anh D tự ý đứng tên trong Giấy chứng nhận, ông H bà D đã yêu cầu chị Đ anh D giao lại Giấy chứng nhận này cho ông bà thì chị Đ và anh D đã giao lại và không có ý kiến phản đối hay đòi lại trong suốt một thời gian dài. Chị Đ khai nhận năm 2007 chị gửi 02 Giấy chứng nhận cho ông H bà D giữ hộ nhưng sau đó chỉ lấy lại 01 Giấy chứng nhận là tài sản nhà đất của chị tại thôn 8, xã A, thành phố P nhưng lại không lấy Giấy chứng nhận của tài sản tranh chấp. Điều này cũng thể hiện rõ tài sản này vốn không phải của anh D chị Đ nên anh chị không yêu cầu lấy lại. Nhà, đất cũng như các tài sản trên đất là do ông H cũng các con sử dụng ổn định từ năm 2007 cho đến nay. Việc chị Đ cho rằng chị là người thực hiện nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất đối với diện tích đất này từ năm 2006 đến năm 2011 không có nghĩa chứng minh rằng chị và anh D là người có quyền sử dụng đối với đất và các tài sản gắn liền với đất tranh chấp.
Vì vậy, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; xác định ông Nguyễn Bùi H và các con gồm chị Nguyễn Thị Phước V, anh Nguyễn Đình H V, anh Nguyễn Đình H V là những người có quyền sử dụng đối với tài sản là nhà và các tài sản khác gắn liền trên đất tại thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh G. Đồng thời là những người có đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền trên đất đối với tài sản này. Mặt khác, cần kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 ngày 07/11/2005 đã được cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Võ Văn D, để cho ông Nguyễn Bùi H, chị Nguyễn Thị Phước V, anh Nguyễn Đình H V và anh Nguyễn Đình H V làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Đối với 05 chỉ vàng mà chị Đ cho rằng đây là phần góp của chị khi mua đất có nêu tại nội dung ghi âm thì tại Bản tự khai ngày 06/3/2018 anh D chị Đ khẳng định đây là khoản vay của vợ ông H (tức là bà Nguyễn Thị D) đối với chị Đ không liên quan đến việc sang nhượng nhà, đất của ông Cần. Anh D, chị Đ không yêu cầu giải quyết khoản nợ vay này. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu giải quyết về khoản vay 05 chỉ vàng nên không có cơ sở để xem xét, giải quyết trong cùng vụ án này. Chị Đ và anh D có quyền khởi kiện để yêu cầu về giải quyết bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, ông H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có ý kiến cho rằng: Tuy sau khi mua giúp xong nhà và đất, ông H và bà D đã nhất trí cho chị Đ và anh D canh tác trên đất và được thu hoạch toàn bộ sản lượng của các loại cây trồng trong 02 năm nhưng chị Đ và anh D là người đã giúp mua bán tài sản này và còn có công sức quản lý, gìn giữ tài sản này nên ông H và các con tự nguyện thanh toán, hỗ trợ thêm cho chị Đ và anh D số tiền 20.000.000đ. Xét, ý kiến này của bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là sự tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về chi phí giám định và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Toàn bộ các chi phí này là 16.700.000đ (trong đ : xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản lần 1 là 5.000.000đ; xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 2 là 3.500.000đ và chi phí giám định là 8.200.000đ). Quá trình giải quyết vụ án, chị Đ anh D đã nộp 5.000.000đ, anh V đã nộp 11.700.000đ. Anh V tự nguyện chịu một nửa các chi phí nên cần buộc bà Đ phải hoàn trả cho anh V số tiền chênh lệch là 3.350.000đ.
Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch. Như vậy, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận toàn bộ nên chị Đ và anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ; Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận nên ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông H số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 85; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các điều 167, 169, 173, 256 Bộ luật dân sự năm 2005;
- Điều 66; điểm k khoản 4 Điều 95, Điều 166, điểm k khoản 1 điều 169 Luật đất đai năm 2013;
- Điều 24, Điều 26, điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Võ Văn D.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Bùi H, chị Nguyễn Thị Phước V, anh Nguyễn Đình H V và anh Nguyễn Đình H V.
- Xác định ông Nguyễn Bùi H, chị Nguyễn Thị Phước V, anh Nguyễn Đình H V và anh Nguyễn Đình H V là những người có quyền sử dụng đối với 2.640m2 đất (198m2 đất ở và 2.442m2 đất vườn) và các tài sản gắn liền với đất tại thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh G. Đất có tứ cận: Phía Đông giáp mương nước dài 30m, phía Tây giáp Quốc lộ 19 dài 30m, phía Bắc giáp đất ông Đỗ Văn H dài 82m, phía Nam giáp đất ông Kiều Xuân A dài 91m. Diện tích đất này thuộc tờ bản đồ số 61, thửa đất số 261c.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh G thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 261996 ngày 07/11/2005 đã được cấp cho chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Võ Văn D.
- Ông Nguyễn Bùi H, chị Nguyễn Thị Phước V, anh Nguyễn Đình H V và anh Nguyễn Đình H V có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với tài sản nêu trên theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
- Buộc chị chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Võ Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ với số tiền 200.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0001529 ngày 02/7/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Chị Đ anh D còn phải nộp tiếp số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Bùi H số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0002543 ngày 19/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Bùi H, chị Nguyễn Thị Phước V anh Nguyễn Đình H V và anh Nguyễn Đình H V: Ông Nguyễn Bùi H, chị Nguyễn Thị Phước V anh Nguyễn Đình H V và anh Nguyễn Đình H V phải thanh toán cho chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Văn D số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
5. Về chi phí giám định và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Chi phí giám định và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản trong vụ án này tổng cộng hết 16.700.000 đồng. Mỗi bên chịu một nửa chi phí là 8.350.000 đồng. Chị Đ đã nộp 5.000.000 đồng, anh Nguyễn Đình H V đã nộp 11.700.000 đồng. Vì vậy, buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Võ Văn D phải hoàn trả cho anh Nguyễn Đình H V số tiền chênh lệch là 3.350.000 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định c hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng h p cơ quan thi hành án c quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày c đơn yêu cầu thi hành án của ngư i đư c thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i đư c thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/6/2018) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND huyện Đ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân H |