- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Tú Trinh - Trần Phong Phú"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 01 - 2023 V/v tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sơn.
2. Ông Huỳnh Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 503/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tú Trinh, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số 624/88/1, hẻm Rạch Trà Ôn, tổ 37, khóm Bình Đức 2, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; có yêu cầu vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trương Phong P, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Số 624/88/1, hẻm Rạch Trà Ôn, tổ 37, khóm Bình Đức 2, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 14/9/2022; quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị Tú Ttrình bày:
Bà và ông Trương Phong P tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau; được sự chấp thuận của gia đình nên ông bà tổ chức lễ cưới vào tháng 9 năm 2009 dưới sự chứng kiến của cha mẹ hai bên. Tuy nhiên đến ngày 02/4/2013, ông bà mới đăng ký kết hôn tại UBND phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/KH.2013, Quyển số 01 ngày 02/4/2013 của UBND phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho ông Trương Phong P và bà Võ Thị Tú Trinh. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh Pc đến tháng 12 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp; ông P thường xuyên uống rượu; không chia sẻ cùng bà công việc trong gia đình nên ông bà đã chính thức ly thân từ tháng 01 năm 2017 đến nay. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Trương Duy Luân, sinh ngày 29/9/2013. Hiện nay con chung đang sinh sống ổn định cùng ông P. Khi ly hôn, bà đồng ý để ông P được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ttrình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhận thấy tình cảm của bà dành cho ông P không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P. Về con chung, bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn là ông Trương Phong P đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông P đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông P vẫn vắng mặt, không rõ lý do. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án, Nguyên đơn bà Võ Thị Tú Tcó Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 23/12/2022 với lý do bận công việc. Bị đơn ông Trương Phong P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Võ Thị Tú Tkhởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Phong P; đồng ý để ông P được tiếp tục nuôi con chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn trong vụ án là ông Trương Phong P có nơi cư trú tại số 624/88/1, hẻm Rạch Trà Ôn, tổ 37, khóm Bình Đức 2, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông P theo quy định tại Điều 171, Điều 175, Điều 177 và Điều 179 BLTTDS nhưng ông P vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của ông P không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông và cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông P là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS.
Bà Tcó yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Tlà phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 BLTTDS.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Tvà ông P. [2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Tvà ông P tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau; được sự chấp thuận của gia đình nên ông bà tổ chức lễ cưới vào tháng 9 năm 2009 dưới sự chứng kiến của cha mẹ hai bên. Sau đó đến ngày 02/4/2013, ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh Pc đến tháng 12 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp; ông P thường xuyên uống rượu; không chia sẻ cùng bà công việc trong gia đình nên ông bà đã chính thức ly thân từ tháng 01 năm 2017 đến nay.
Chứng minh cho lời trình bày, bà Tcung cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35/KH.2013, Quyển số 01 ngày 02/4/2013 của UBND phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho ông Trương Phong P và bà Võ Thị Tú Trinh; Giấy khai sinh của con chung Trương Duy Luân, sinh ngày 29/9/2013. Như vậy, bà Tđã thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của BLTTDS. Ngược lại, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông P vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS. Do đó, lời trình bày và chứng cứ mà bà Tcung cấp là cơ sở để Tòa án xác định hôn nhân giữa bà Tvà ông P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận nhưng vì mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn làm cho vợ chồng không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau kể từ tháng 01 năm 2017 đến nay là có thật; cho thấy ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Tcó yêu cầu được ly hôn ông P là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được HĐXX chấp nhận. Về quan hệ con chung: Theo lời trình bày của bà Trinh, hiện nay con chung là cháu Trương Duy Luân, sinh ngày 29/9/2013 đang được ông P nuôi dưỡng; bà Tkhông tranh chấp về quyền nuôi con chung và đồng ý để ông P được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, tuy không ghi nhận được ý kiến của con chung nhưng nguyên đơn là bà Thoàn toàn không tranh chấp về quyền nuôi con chung và đồng ý để ông P được tiếp tục nuôi con. Do đó, cần đảm bảo về chỗ ở, điều kiện sinh sống và phát triển toàn diện của cháu Luân; HĐXX nghĩ nên để ông P được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Luân là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, bà Tvẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình Tòa án giải quyết, tuy không ghi nhận được ý kiến của ông P về việc có hay không có yêu cầu bà Tcấp dưỡng nuôi con chung và do nguyên đơn là bà Tkhông đồng ý việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng cho con. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Ttrình bày không có; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. [3] Về án phí: Bà Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Tđã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000840 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông P không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 91; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Võ Thị Tú Tđược ly hôn với ông Trương Phong P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 35/KH.2013, Quyển số 01 ngày 02/4/2013 của UBND phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho ông Trương Phong P và bà Võ Thị Tú Thết hiệu lực kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Ông Trương Phong P được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trương Duy Luân, sinh ngày 29/9/2013 cho đến khi con chung thành niên, trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về cấp dưỡng cho con: Không xem xét giải quyết.
Ông P cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho bà Tđược thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai có quyền ngăn cấm. Việc nuôi con chung không cố định. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000840 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông P không phải chịu án phí.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND TP Long Xuyên; - CCTHADS TP Long Xuyên; - Các đương sự; - UBND phường Bình Đức. - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Thu |