- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị H xin ly hôn Nguyễn Tuấn A"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Đoàn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tuấn A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2025/HNGĐ-ST Ngày 14/01/2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiếu và bà Bùi Thị Vân Ngọc
Ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Uyên -Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1992;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã D, huyện X, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã D, huyện X, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn V, xã D, huyện X, TP. Hà Nội.
Chị H có mặt; anh Tuấn A vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 08/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đoàn Thị H trình bày:
Chị kết hôn với với anh Nguyễn Tuấn A từ năm 2013 là hôn nhân tự nguyện tiến bộ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, anh Tuấn A thường xuyên bỏ nhà đi qua đêm, tụ tập đàn đúm bạn bè, chơi bời. Anh Tuấn A không làm ăn gì, toàn bộ kinh tế chi tiêu trong gia đình, kể cả tiền ăn học của con chung đều do chị và mẹ chồng cùng góp lại để trang trải, anh Tuấn Anh không phụ giúp được gì. Ngoài ra, anh Tuấn Anh còn thường xuyên ghen tuông mù quáng, nghi ngờ chị, từ đó thường xuyên chửi bới, xúc phạm chị, từ năm con chung của vợ chồng mới được 05 tháng tuổi, anh Tuấn Anh liên tục đi chơi qua đêm về nhà thì mạt sát, đánh đập chị. Đến vài năm gần đây anh Tuấn Anh có những biểu hiện giống như người nghiện ma túy, chị nghi ngờ mỗi lần anh Tuấn Anh đi qua đêm là đi sử dụng chất cấm như là ma túy đá, chị cũng đã khuyên bảo anh Tuấn Anh bỏ nhưng anh không nghe mà thường xuyên đánh đập, thậm chí còn cầm dao đuổi đánh chị. Đến tháng 10/2024, anh Tuấn Anh liên tục có những hành động dọa dẫm, đuổi đánh chị và có những biểu hiện không tỉnh táo, do lo sợ nên chị đã bỏ về ngoại, từ đó vợ chồng bắt đầu ly thân.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân với anh Tuấn Anh rất mệt mỏi và nguy hiểm nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên giải quyết cho chị được ly hôn để giải phóng cho cả hai.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Bảo Ngọc, sinh ngày 10/12/2014 hiện cháu Ngọc đang ở cùng chị tại nhà ngoại ở thôn Đồng Tiến, xã Phượng Dực. Chị đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì cháu ở với bố rất nguy hiểm, nếu được nuôi con thì chị không yêu cầu anh Tuấn Anh phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng chị Hoa khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Tuấn A:
Anh Tuấn A đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa làm việc, không có quan điểm về giải quyết vụ kiện.
UBND xã Phượng Dực nơi cư trú của đương sự có quan điểm:
Tại thời điểm giải quyết vụ án, phía anh Tuấn Anh vẫn đang cư trú, sinh sống bình thường tại địa phương; Qua tìm hiểu được biết, anh Tuấn A không có nghề nghiệp ổn định, hàng xóm thường xuyên thấy vợ chồng cãi vã, to tiếng chửi bới nhau, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Trong vài năm gần đây, vợ chồng chị Hoa, anh Tuấn Anh đã có 3 -5 lần làm đơn ly hôn ra UBND xã đề nghị xác nhận, UBND xã đã tiến hành hoà giải vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Hiện nay, anh Nguyễn Tuấn Anh đang có một số biểu hiện nghi là biểu hiện của việc nghiện ma tuý, nằm trong danh sách nghi nghiện của Công an xã và Phòng Lao động thương binh xã hội huyện Phú Xuyên. Giữa vợ chồng chị Hoa, anh Tuấn Anh có phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân một thời gian, vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét đối chiếu các quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình giải quyết theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng chị Hoa, anh Tuấn Anh có một con chung là Nguyễn Thị Bảo Ngọc, sinh ngày 10/12/2014 hiện đang sinh sống cùng chị Hoa. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật giao con chung cho người có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng. Tài sản chung, công nợ của vợ chồng trong thời gian chung sống, UBND xã không nắm rõ, song trong suốt thời gian chung sống ở địa phương không thấy có tranh chấp gì về công nợ liên quan đến vợ chồng chị H, anh Tuấn A.
Đại diện VKSND tham gia phiên toà xác định:
- Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Các đương sự đã được tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoa; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo Ng, sinh ngày 10/12/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm miễn cấp dưỡng nuôi con chung anh Tuấn A. Về tài sản chung và công nợ chung nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Đây là vụ án về “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội nên việc Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Anh Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Vì vậy, theo quy định của khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh Tuấn Anh.
. Về quan hệ hôn nhân và yêu cầu của các bên:
Chị Đoàn Thị Hoa kết hôn với anh Nguyễn Tuấn Anh là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội năm 2013 (số 04/2013 ngày 08 tháng 01 năm 2013). Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, bản thân anh Tuấn Anh không có nghề nghiệp ổn định nên thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng, chửi bới nhau. Vợ chồng nhiều lần làm đơn ly hôn đến UBND xã Phượng Dực xin xác nhận nhưng những lần trước đều được UBND xã tiến hành hòa giải về đoàn tụ với nhau. Mặt khác UBND và Công an xã Phượng Dực cung cấp anh Tuấn Anh đang có một số biểu hiện nghi là biểu hiện của việc nghiện ma túy, nằm trong danh sách nghi nghiện của Công an xã Phượng Dực. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoa và anh Tuấn Anh đã phát sinh từ lâu, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoa là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Thị Bảo Ng, sinh ngày 10/12/2014.
Xét thấy: Cháu Ngọc hiện nay đang sinh sống ổn định cùng chị Hoa, quá trình giải quyết, chị Hoa có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc và không yêu cầu anh Tuấn Anh phải đóng góp nuôi con chung. Bản thân anh Tuấn A không có nghề nghiệp ổn định lại đang trong danh sách nghi nghiện của xã.. nếu giao cháu Ng cho anh Tuấn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của cháu. Vì vậy, để ổn định sự phát triển của con chung cũng như điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con chung, nên giao con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo Ng cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm miễn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tuấn Anh, anh Tuấn Anh có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H không yêu cầu, trong khi anh Tuấn Anh không có quan điểm, do đó Tòa không xét trong vụ án này. Trường hợp sau này, nếu các bên có tranh chấp và có yêu cầu, thì Tòa án sẽ giành quyền khởi kiện trong 01 vụ kiện độc lập khác, để không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án cũng như quyền lợi của các bên trong việc kiện.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Hoa phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H, anh Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên:
1. Xử cho chị Đoàn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tuấn A.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Bảo Ng, sinh ngày 10/12/2014 cho chị Đoàn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tuấn A. Anh Tuấn A có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép ngăn cản.
3. Về tài sản, công nợ chung: Tòa không xét.
4. Về án phí: Chị Đoàn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0015645 ngày 11/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị Hoa đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Đoàn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội - VKSND huyện Phú Xuyên - Chi cục THA huyện Phú Xuyên - Các đương sự - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ( đã ký) Phùng Văn Phong THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |