vanban.org

Bản án 08 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Kim D được ly hôn với anh Trần Ngọc T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Mạnh T, sinh ngày 31/10/2011 và cháu Trần Hà Tuệ N, sinh ngày 11/12/2014 cho chị Hà Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc, giáo dục con chung khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Kim D được ly hôn với anh Trần Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn phï ninh
tØnh phó thä

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 08 /2018/ HNG§ -ST
Ngµy 06/02/2018.
V/v: Ly h«n, tranh chÊp nu«i con khi ly h«n.
Nh©n danh
Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Phï Ninh
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n- Chñ täa phiªn tßa: Bµ T¹ ThÞ Hång Ng©n.
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1. Ông Nguyễn Chí Đức;
huyÖn Phï Ninh.
Trang - KiÓm s¸t viªn
Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 203/2017/TLST - HNGĐ ngày
13/11/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 03/2018/QĐXX - ST ngày 05/01/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị Kim D - Sinh năm 1987.
TQ; Khu Đ, TT C, huyê ̣n P, tỉnh Phú Thọ.
(Hôm nay, có mặt).
Bị đơn: Anh Trần Ngọc T - sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu Đ, TT C, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
( Hôm nay, vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai tiếp theo chị Hà Thị Kim D trình bày: Chị và anh T yêu thương nhau tự nguyê ̣n và có đăng ký kết hôn ta ̣i UBND TT C, huyện P, tỉnh Phú Thọ năm 2011. Sau kết hôn vợ chồng ở chung cùng gia đình anh Trác. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng một năm thi

̀ phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân do anh T chơi bời không tu chí làm ăn. Chị đã nhiều lần cho anh T cơ hội để sửa chữa đồng thời gia đình hai bên cũng đã hòa giải nhưng anh T không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2017 đến nay. Nay chị thấy thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên xin được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Trần Mạnh T, sinh ngày 31/10/2011 và Trần Hà Tuệ N, sinh ngày 11/12/2014. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị. Nếu ly hôn chị xin được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chùng chị.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.

* Về phía anh Trần Ngọc T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần có Giấy triệu tập anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng anh T đều cố tình trốn tránh, không có mặt tại Tòa án nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Hà Thị Kim D xin ly hôn đối với anh Trần Ngọc T và đề nghị tòa án giải quyết về con chung khi ly hôn. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND TT C, huyện P, tỉnh Phú Thọ phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị D trình bày thì vợ chồng mâu thuẫn là do anh T chơi bời, không tu chí làm ăn và không quan tâm đến gia đình. Hiê ̣n anh chi ̣ đa sỗ ́ng ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau . Về phia anh T

́ mă ̣c dù đa đượ̃

c tòa án thông báo về viê ̣c thu ̣ lý vu ̣ án và đa gữ ̉ i các văn bản tố tu ̣ng cho anh T để anh T thực hiê ̣n quyền và nghia vu ̣̃

tố tu ̣ng của minh nhưng anh T

̀ không có mă ̣t. Theo biên bản xác minh ngày 21/11/2017 tại Ban Công TT C, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì hiện nay anh T đang có hộ khẩu thường trú tại TT C và hiện vẫn đang làm ăn sinh sống tại địa phương.Tại Biên bản làm việc ngày 21/11/2017 với UBND TT C cũng được cung cấp: Thời gian vừa qua UBND TT C có nhận được các văn bản tố tu ̣ng của Tòa án gử i cho anh T để triệu tâ ̣p anh T đến TAND huyê ̣n Phù Ninh giải quyết vu ̣ án ly hôn giữa chi ̣ D và anh T, sau khi nhân được các văn bản tố tụng đó, UBND TT C đa cữ ̉ cán bô ̣ đến giao cho anh T nhưng anh T không nhận bất cứ một băn bản tố tụng nào của Tòa án. Đồng thời ngày 21/11/2017 Tòa án cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương đến nhà anh anh T để làm việc trực tiếp với anh T nhưng anh T không phối hợp làm việc cũng như không nhận bất cứ văn bản tố tụng nào. Nh vËy, anh T ®· biÕt ® îc viÖc chị D xin ly hôn và biÕt ® îc Tßa ¸n ®· thô lý vô ¸n nh ng vÉn cè t×nh v¾ng mÆt. Do ®ã, anh T mặc nhiên từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Để đảm bảo quyền lợi của chị D và cũng phù hợp với quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay chị D vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn vớ i anh T vì tình cảm vợ chồng không còn . Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho chị D được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Dg xác nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Mạnh T, sinh ngày 31/10/2011 và Trần Hà Tuệ N, sinh ngày 11/12/2014. Hiện nay các cháu đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét thấy nguyện vọng xin được nuôi con của chị D là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với pháp luật. Mặt khác vì tại phiên tòa hôm nay anh T không có mặt nên nếu giao một trong hai cháu cho anh Trác trực tiếp nuôi dưỡng thì sẽ không đảm bảo được quyền lợi của cháu. Tại phiên tòa hôm nay chị D khẳng định có đủ điểu kiện để chăm sóc hai con được tốt nhất vì hiện nay chị đang có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, cần giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu T và N, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị D xác nhận không có nên HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu sau này anh T đề nghị giải quyết về tài sản chung, nợ chung, công sức và có căn cứ thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có quan điểm: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX, Thư ký tòa án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đườ ng lối giải quyết vu ̣ án : Đại diện VKS đề nghị Tòa án xử cho chị Hà Thị Kim D được ly hôn với anh Trần Ngọc T và giao hai cháu T, N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hà Thị Kim D phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82 luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử;

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Kim D được ly hôn với anh Trần Ngọc T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Mạnh T, sinh ngày 31/10/2011 và cháu Trần Hà Tuệ N, sinh ngày 11/12/2014 cho chị Hà Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc, giáo dục con chung không bên nào được ngăn cấm.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức: Không có.

Về án phí: Chị Hà Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000664 ngày 07/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị D đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đương sự có mặt được quyền kháng cáo.

Anh Trần Ngọc T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ