- Tranh chấp gì? "Phan Thị T đánh bạc - Bị truy tố tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị T phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 08/2022/HS-ST Ngày: 06-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A N NH N D N TH NH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Hồng Vân và bà Ngô Thị Mỹ Lợi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký T a án nh n d n thành ph Sa Đ c.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c tham gia phiên tòa:
Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 10/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 08/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị T, sinh năm 1969 tại tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Khu d n cư khóm K, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Chỗ ở: Khóm I, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: không;
Trình độ học vấn: không biết chữ
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Hoàng S1 (chết) và bà Phan Thị S2, sinh năm 1948
Chồng: Lê Hữu D (chết)
Con: có 01 người tên Lê Hữu N, sinh năm 1989
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 05/3/2021 bị Công an Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái ph p ăn thua bằng tiền.
Tạm giữ, tạm giam: Không
Hiện bị cáo đang tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1- Anh Nguyễn Tuấn K1, sinh năm 1988 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp Q, xã E, huyện V, tỉnh Đồng Tháp
2- Chị Huỳnh Trúc L, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp R, xã Y, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
3- Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm K, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
4- Bà Lưu Thị M, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm K, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
4- Chị Trần Thị Kim T1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm K, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
5- Anh Trần Hữu P, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: Khóm U, Phường O, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Chỗ ở: Khóm U, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
6- Chị Huỳnh Thị Tuyết L1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm G, Phường X, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
7- Chị Võ Kim P1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu d n cư ấp B, xã D1, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 14/4/2021 Phan Thị T, Nguyễn Tuấn K1, Huỳnh Trúc L, Lê Thị Ngọc H, Lưu Thị M, Trần Thị Kim Thuỳ, Trần Hữu P, Huỳnh Thị Tuyết L1, lần lượt đến nhà tại khu d n cư ấp B, xã D1, thành ph S do Võ Kim P1 thuê ở để chơi được M1 (người giúp việc cho P1, không rõ họ tên, địa chỉ) mở cửa cho vào.
Sau khi vào nhà cả nhóm hùn tiền với nhau rồi đưa cho M1 đi mua bài t y, loại 52 lá về để đánh bài ăn thua bằng tiền với nhau.
Hình thức là đánh bài binh mỗi tụ 06 lá, một người làm cái những người còn lại đặt tụ, mỗi người đặt cược thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng/ván bài.
Trong quá trình đánh bài thì K1 làm cái 01 ván, những ván còn lại do L làm cái.
Đ i với P1 do bị bệnh nên không tham gia đánh bài mà nằm nghỉ trong phòng.
Đến 00 giờ 30 phút, ngày 15/4/2021 khi L đang làm chủ cái thì bị lực lượng Công an thành ph Sa Đéc phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật chứng như sau:
- Tại chiếu bạc gồm:
+ 01 bộ bài tây 52 lá;
+ S tiền 11.400.000 đồng (trong đó của: K1 8.600.000 đồng, L 2.700.000 đồng, P 100.000 đồng).
- Trong tủ và ngoài tủ nhôm gần chiếu bạc:
+ 15 bộ bài tây;
+ S tiền 3.315.000 đồng.
- Trên bàn thờ ông Thần Tài, ông Thổ Địa:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đã qua sử dụng.
Ngoài ra, Công an còn thu giữ các đồ vật, tài sản như sau:
- Nguyễn Tuấn K1:
+ 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng;
+ 01 điện thoại di động hiệu iPhone;
+ 01 xe mô tô hiệu Sonic, biển s 66L1- 571.04;
+ S tiền 20.000.000 đồng.
- Huỳnh Trúc L:
+ 02 điện thoại di động hiệu OPPO;
+ S tiền 6.800.000 đồng.
- Lê Thị Ngọc H:
+ 01 xe mô tô hiệu SH Mode, biển s 66S1-481.50;
+ S tiền 800.000 đồng.
- Lưu Thị M:
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia;
+ S tiền 2.800.000 đồng.
- Trần Thị Kim Thuỳ: S tiền 300.000 đồng.
- Huỳnh Thị Tuyết L1: S tiền 170.000 đồng.
- Lê Văn Nam:
+ 01 điện thoại di động Nokia;
+ S tiền 600.000 đồng.
- Võ Kim P1:
+ 02 camera hiệu FOFU; + 02 thẻ nhớ hiệu CANVAS 32 GB.
Quá trình điều tra xác định: Các bị cáo sử dụng s tiền vào đánh bạc, tổng cộng: 12.670.000 đồng, trong đó thu giữ tại chiếu bạc 11.400.000 đồng, trong người H 800.000 đồng, T1 300.000 đồng, L1 170.000 đồng.
Đ i với Phan Thị T đem 200.000 đồng tham gia đánh bạc, khi bị bắt đã thua hết.
Quá trình điều tra Phan Thị T bỏ khỏi địa phương đi đ u không rõ nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, đến ngày 22/11/2021 T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Sa Đ c đầu thú.
Tại bản cáo trạng s 09/CT-VKSTPSĐ ngày 25/3/2022, Viện kiểm sát nhân d n thành ph Sa Đ c đã truy t bị cáo Phan Thị T về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên t a hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:
- Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị T về tội “Đánh bạc” với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Ngoài ra Viện kiểm sát c n đề nghị về các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
2 Tại phiên t a, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời trình bày của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập lúc 00 giờ 30 phút ngày 15/4/ 2021của Công an thành ph Sa Đ c, các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Qua đó, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/4/2021 tại nhà thuộc khu d n cư ấp B, xã D1, thành ph S, Phan Thị T cùng với Nguyễn Tuấn K1, Huỳnh Trúc L, Lê Thị Ngọc H, Lưu Thị M, Trần Thị Kim Thuỳ, Trần Hữu P, Huỳnh Thị Tuyết L1 cùng nhau tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền thì bị bắt quả tang, tổng s tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 12.670.000 đồng (trong đó bị cáo T tham gia đánh bạc với s tiền là 200.000 đồng).
Bị cáo là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được hành vi đánh bạc, sát phạt ăn thua bằng tiền là một trong những tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm, bởi vì, nó là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như: trộm cắp, cướp giật, lừa đảo,…,và cũng là nguyên nh n g y đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm sa sút kinh tế của nhiều gia đình. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, hám lợi, đam mê cờ bạc, mu n có tiền dễ dàng mà không cần bỏ ra nhiều công sức lao động nên bị cáo đã tham gia đánh bạc, sát phạt ăn thua bằng tiền, nhằm thu lợi bất chính cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là sai trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, làm giảm ý chí phấn đấu lao động làm ăn lương thiện của một s người, mu n chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng cho mình mà không cần bỏ ra nhiều công sức lao động. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho tệ nạn đánh bạc ngày càng nhiều trong xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ, mục đích là mu n có tiền dễ dàng.
Bị cáo là người đã có gia đình và có con, bị cáo có tiền sự về hành vi đánh bạc bị Công an Phường A, thành ph S xử phạt 1.500.000đ. Lẽ ra bị cáo phải từ bỏ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động, làm ăn ch n chính, chăm lo cho gia đình và làm tấm gương t t cho con cái noi theo. Thế nhưng, với tư tưởng xấu, ý thức xem thường pháp luật, đam mê cờ bạc, mu n có tiền một cách dễ dàng, vào ngày 14/4/2021 bị cáo đã tham gia đánh bạc cùng với Nguyễn Tuấn K1, Huỳnh Trúc L, Lê Thị Ngọc H, Lưu Thị M, Trần Thị Kim T1, Trần Hữu P, Huỳnh Thị Tuyết L1. S tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 200.000 đồng. Sau đó bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái ph p dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng đã bi xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
.....”
Hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tính hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên t a là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý bị cáo, để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân t t, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và ph ng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau thời gian phạm tội đã đến Công an đầu thú, vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, s tiền sử dụng vào việc đánh bạc không lớn (200.000đ), nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao cho chính quyền địa phương giáo dục là đủ răn đe và tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai phạm, vì vậy cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xem x t đ i với bị cáo.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự thì bị cáo phải khấu trừ một phần thu nhập. Tuy nhiên xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
[7 Về trách nhiệm dân sự: Không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã được giải quyết và xử lý tại Bản án s 01/2022/HS-ST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đ i với Nguyễn Tuấn K1, Huỳnh Trúc L, Lê Thị Ngọc H, Lưu Thị M, Trần Thị Kim T1, Trần Hữu P, Huỳnh Thị Tuyết L1 có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền cùng với bị cáo T đã được Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp xét xử tại Bản án s 01/2022/HS-ST ngày 19/01/2022.
Đ i với việc bị cáo sử dụng nhà của Võ Kim P1 để đánh bạc ăn thua bằng tiền nhưng P1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị T phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị T mức án 06 tháng (Sáu tháng) cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Phan Thị T cho Ủy ban nhân dân Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp và gia đình ph i hợp giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian cải tạo không giam giữ thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đ i với bị cáo Phan Thị T do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 ộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí T a án năm 2016:
Bị cáo Phan Thị T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đ c; (2b) - Công an TP Sa Đ c; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đ c; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia t tụng; (1b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |