- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T, tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2026/HSST Ngày 22 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Bùi Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuý, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2026/ TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026, đối với:
Bị cáo Phạm Văn T, sinh ngày 02/10/1989; nơi sinh và cư trú: thôn C, xã Y, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị Th; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an ninh trật tự và an toàn xã hội số 71/QĐXPHC ngày 11/02/2007 của Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, phạt T số tiền 250.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, T đã nộp đủ tiền phạt ngày 08/3/2007; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam VT - Công an tỉnh Phú Thọ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/9/2025, tại tỉnh lộ 303 thuộc thôn X, xã L, tỉnh Phú Thọ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an xã L kiểm tra, bắt quả tang Phạm Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: Tại túi quần bên trái phía trước Phạm Văn T đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, phần nilon bên ngoài vỏ bao thuốc lá có cài 01 túi nilon màu đen, bên trong túi nilon có chứa tinh thể dạng đá màu trắng và 03 viên nén màu hồng, T khai nhận là ma tuý tổng hợp T tàng trữ mục đích sử dụng, niêm phong ký hiệu A1.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Trạm y tế Tr, xã L tiến hành test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của T. Kết quả xét nghiệm xác định mẫu nước tiểu của T âm tính với chất ma tuý. Cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của T và niêm phong, ký hiệu T1.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ ra Lệnh khám xét khẩn cấp số A989/LKX-CSMT chỗ ở của Phạm Văn T tại thôn C, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 2137/KLGĐ-KTHS ngày 02/10/2025, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“1. Tinh thể dạng đá màu trắng trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0628g (không phảy không sáu hai tám gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
2. Ba viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3080g (không phảy ba không tám không gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.”
Tại Kết luận giám định số 2326/KL-KTHS ngày 02/10/2025, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Không phát hiện thành phần chất ma túy thường gặp (Heroine, Morphine, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2 C- B, TFMPP) trong mẫu chất lỏng vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu của Phạm Văn T, sinh năm: 1989, trú tại: thôn C, xã Y, tỉnh Phú Thọ (ký hiệu T1) gửi giám định.”
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn T khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/9/2025, T đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng chất ma tuý nên một mình đi nhờ xe của người qua đường từ xã Y đến khu vực cánh đồng thôn X, xã L, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Khi đến nơi, T đi bộ trên tỉnh lộ 303 thì gặp một người nam giới mặc áo chống nắng màu xám, đeo khẩu trang (không biết tên, tuổi, địa chỉ) nhìn giống người nghiện ma tuý nên T đi đến hỏi mua ma tuý tổng hợp (đá, ngựa), người này đồng ý và bảo T đứng đợi. Người này điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen (không rõ biển kiểm soát) đi khoảng 05 phút sau quay lại. T đưa người này 300.000đồng, người này cầm tiền rồi đưa T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, phần nilon bên ngoài vỏ bao thuốc lá có cài 01 túi nilon màu đen, bên trong túi nilon có chứa tinh thể dạng đá màu trắng và 03 viên nén màu hồng rồi bỏ đi. T cầm số ma tuý vừa mua được cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.
Tại Cáo trạng số: 47/CT-VKSKV10 ngày 05 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ truy tố Phạm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: Phạm Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/9/2025; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng, thể hiện như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/9/2025, tại tỉnh lộ 303 đoạn đường thuộc thôn X, xã L, tỉnh Phú Thọ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an xã L bắt quả tang Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,3708gam chất ma túy loại Methamphetamine mục đích sử dụng. Tang vật thu giữ: Tại túi quần bên trái phía trước của Phạm Văn T đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, phần nilon bên ngoài vỏ bao thuốc lá có cài 01 túi nilon màu đen, bên trong túi nilon chứa 0,3708 gam chất ma túy loại Methamphetamine.
. Hành vi của Phạm Văn T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý,...., thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
…
c) … Methamphetamine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Về nhân thân, bị cáo đã 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
. Đối với người nam giới, T khai nhận đã bán ma tuý cho T vào ngày 26/9/2025 tại khu vực tỉnh lộ 303, thôn X, xã L, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan điều tra xác minh nhưng chưa làm rõ được nên tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
. Về vật chứng vụ án: Đối với mẫu A1 = 0,2458 gam và 0,0339 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 26/9/2025.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật gồm: A1 = 0,2458gam và 0,0339gam Methamphetamine cùng toàn bộ bao gói do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2026)
4. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam cơ sở 2-Công an Phú Thọ; - Phòng PC 10 Công an Phú Thọ; - VKSND khu vực 10 - Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu VP, HSVA, bộ phận THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Lưu |