vanban.org

Bản án 08/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Tô Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TÔ VĂN L - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Quyết định số 71/2023/QĐ-UBND Quy định điều kiện, tiêu chí,…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HS-ST
Ngày: 29/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khải và bà Phạm Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải – Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hữu Ái – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nam Dong, tỉnh Lâm Đồng, xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Tô Văn L, sinh năm 1970 tại tỉnh Nghệ An; CCCD số: 040070026335, cấp ngày 14/9/2021 tại Cục CSQLHCVTTXH; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 06, xã D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn C (sinh năm 1940) và bà Trần Thị T (đã chết); có vợ là bà Phạm Thị D (sinh năm 1975); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: 01 – Ngày 19/5/2023, bị Toà án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (cũ) ra Quyết định số 02/2023/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, L đã chấp hành xong ngày 02/12/2024, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 31/01/2024; ngày 05/3/2024, bị UBND xã Nam Dong ra Quyết định số 71/2023/QĐ-UBND về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 01/02/2024 đến ngày 01/02/2026; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Cư Jút – Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tô Văn L (Sinh năm: 1970; Nơi đăng ký thường trú: thôn 06, xã D, tỉnh Lâm Đồng) là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma tuý tại địa phương. Ngày 03/01/2023, Tô Văn L bị Toà án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Toà án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 01/2023/QĐ-TA. Đến ngày 31/1/2024, Tô Văn Long chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Giấy chứng nhận số 2039/CN-CS1 ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1, tỉnh Đắk Nông (nay là Cơ sở cai nghiện ma tuý số 4, tỉnh Lâm Đồng). Sau khi về địa phương, Tô Văn L bị Ủy ban nhân dân xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Ủy ban nhân dân xã Nam Dong, tỉnh Lâm Đồng) ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 71/2023/QĐ-UBND ngày 05/3/2024, trong thời gian từ ngày 01/02/2024 đến 01/02/2026.

Ngày 03/9/2025, Tô Văn L chăm con tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên, tỉnh Đăk Lăk thì nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên L điều khiển xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) đến đường Y Jut, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để mua ma tuý. Khi tới đầu đường Y Jut, L gặp người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi mua ma tuý Heroine với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) thì được người này đưa cho 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa ma tuý. Sau đó, Long cầm gói ma túy trong lòng bàn tay rồi điều khiển xe đến bãi đất trống thuộc tổ dân phố 07, phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L dừng xe đi bộ vào phía sau bụi cỏ trong đường đất rồi lấy gói ma tuý vừa mua được bỏ vào giấy bạc mà L xé từ gói thuốc lá dùng lửa đốt nóng tạo thành khói rồi hút trực tiếp vào miệng. Sau khi sử dụng hết ma túy, L vo miếng giấy bạc ném vào bụi cỏ rồi đi về bệnh viện chăm con, sau đó trờ về nhà tại thôn 06, xã D, tỉnh Lâm Đồng.

Đến ngày 06/9/2025, Tô Văn L được Công an xã D tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể bằng que test nhanh cho kết quả L dương tính với ma tuý loại Morphine. Sau đó, Công an xã D đã đưa Long đến Trung tâm y tế khu vực Cư Jut, tỉnh Lâm Đồng để tiến hành thu mẫu nước tiểu của Tô Văn L đưa đi giám định theo quy định.

Tại Bản Kết luận giám định số 569/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tìm thấy Morphine trong mẫu nước tiểu M được niêm phong gửi giám định.

Cáo trạng số 10/CT-VKS-KV9 ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 9 – Lâm Đồng truy tố Tô Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Về tội danh: Tuyên bố Tô Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về hình phạt: Xử phạt Tô Văn L từ 02 năm 03 tháng tù đền 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/10/2025.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho L tại đường Y Jút, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 03/9/2025, Tô Văn L (là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật phòng, chống ma túy) đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine và bị Công an xã D, tỉnh Lâm Đồng phát hiện.

Như vậy, hành vi của bị cáo Tô Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của BLHS (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

…

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

…”

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo: Ma túy là loại độc dược gây nghiện, việc sử dụng trái phép chất ma túy gây tác hại rất lớn, lâu dài đối với sức khỏe con người và xã hội; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước nghiêm cấm và xử lý rất nghiêm khắc đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo biết rõ được tác hại của ma túy và có đầy đủ năng lực để nhận thức được sự trừng phạt của pháp luật đối với hành vi vi phạm của mình nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật, sự lên án của dư luận xã hội, liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quy định của Nhà nước về việc kiểm soát các hoạt động liên quan đến chất ma túy mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Tô Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 08/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Đánh bạc theo Bản án số 25/2009/HSST (đã được xóa án tích).

. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, vật chứng thu giữ đã phục vụ công tác giám định, không hoàn lại đối tượng giám định nên không xem xét.

. Đối với người phụ nữ bán ma túy cho L tại đường Y Jút, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Tô Văn L 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/10/2025.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Tô Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ