- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Tr phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2026/HS-ST Ngày: 09-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Đình Mùi,
- Bà Hoàng Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý A Dà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành Tr, tên gọi khác: Không, sinh ngày 30/6/19xx, tại: xã CT, tỉnh Lào Cai; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn ĐQ, xã CT, tỉnh Lào Cai; số định danh cá nhân: 01507600xxxx; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị L (đã chết); có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 19xx và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004;
Tiền án: Không.
- Tiền sự: Nguyễn Thành Tr bị Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 88/QĐ-TA ngày 26/12/2022 với thời gian là 18 tháng. Chấp hành từ ngày 06/01/2023 đến ngày 06/7/2024 chấp hành xong. Bị UBND xã TT, huyện VC quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 98/QĐ-UBND ngày 24/7/2024 thời hạn quản lý từ ngày 24/7/2024 đến ngày 24/7/2026.
Nhân thân: Quyết định số 33/QĐ-TA ngày 19/9/2017 Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái (hiện nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành Tr thời gian 24 tháng đến ngày 19/9/2019 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2025, tạm giam từ ngày 05/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành Tr nghiện ma túy từ năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 88/QĐ-TA ngày 26/12/2022 với thời gian là 18 tháng. Chấp hành từ ngày 06/01/2023 đến ngày 06/7/2024 chấp hành xong. Bị UBND xã TT, huyện VC quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 98/QĐ-UBND ngày 24/7/2024 thời hạn quản lý từ ngày 24/7/2024 đến ngày 24/7/2026.
Trong thời gian bị quản lý, ngày 29/9/2025 Nguyễn Thành Tr mua Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông tại khu vực xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai sau đó mang về khu vực dốc Đát Quang xã CT sử dụng trái phép bằng hình thức đặt Heroine lên tờ giấy bạc dùng bật lửa đốt bên dưới rồi hít vào cơ thể, ngày 02/10/2025 CQĐT đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Thành Tr để giám định.
Tại Kết luận giám định số 2408/KL-KTHS ngày 06/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thành Tr gửi đến giám định có chất ma túy, loại Morphine và 6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người.
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định nêu trên.
- Cáo trạng số: 42/CT-VKS-KV4 ngày 16 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố Nguyễn Thành Tr về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự;
* Bị cáo không khiếu nại Cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thành Tr khai nhận rõ ràng, đầy đủ về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Kiểm sát viên trình bày luận tội đã đánh giá về tính chất, mức độ, nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân bị cáo. Đồng thời giữ nguyên nội dung Cáo trạng và quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thành Tr được nêu trong Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Tr từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về.
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án: Vật chứng không thu hồi được nên không đề nghị xử lý.
+ Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Nguyễn Thành Tr được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Thành Tr nói lời sau: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Thành Tr bị UBND xã TT, huyện VC (nay là UBND xã CT, tỉnh Lào Cai) quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 98/QĐ-UBND ngày 24/7/2024 thời hạn quản lý từ ngày 24/7/2024 đến ngày 24/7/2026. Ngày 29/9/2025 tại khu vực dốc Đát Quang, xã CT, Nguyễn Thành Tr sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo Nguyễn Thành Tr là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy lại sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Tr đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Thành Tr là chính xác, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Tính chất của vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Tr xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an và an toàn tại địa phương. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, do đó cần phải đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thành Tr là người sử dụng trái phép chất ma túy đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nên cần xác định Nguyễn Thành Tr có nhân thân xấu.
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung.
. Các vấn đề khác:
*Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thành Tr: Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể do đó không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Tr phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Tr 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 02-10-2025
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thành Tr phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Thành Tr có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 09-01-2026.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 4 - Lào Cai; - Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Lào Cai; - Phòng HS Nghiệp vụ, CA tỉnh Lào Cai - Phòng THADS khu vực 4, tỉnh Lào Cai; - Trại tạm giam số 2, CA tỉnh Lào Cai; - Chi cục hải quan tỉnh Lào Cai; - Thi hành án hình sự; - UBND xã CT, tỉnh Lào Cai (TB); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Đình Mùi Hoàng Thị Thanh Tâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thành Long THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thành Long |