vanban.org

Bản án 08/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Võ Thị Ru B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Võ Thị Ru B: 08 (Tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2025. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Ru B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Võ Thị Ru B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HS-ST
Ngày: 19-01-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Trà Giang.

2. Bà Dương Thị Được.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Võ Thị Ru B, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 00/12 (Không biết chữ); Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; có cha là Võ Xuân S (Đã chết) và mẹ là Phạm Thị H (Đã chết); có chồng là Trương Văn S1, sinh năm 1990; bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 24/7/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H. “Có mặt tại phiên tòa”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Châu C, sinh năm 1995.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 – Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. ''Vắng mặt''

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị Ru B là người không có việc làm nên nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho những người có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. Vào thời gian trước ngày 17/7/2025, Ru B liên hệ với một người phụ nữ tên Mỹ H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.000.000 đồng ma túy đá (đã được H1 phân sẵn thành 11 gói). Sau khi mua được ma túy, Ru B cất giấu tại nơi ở của mình là Phòng trọ số 6 ở Tổ E, ấp H, xã L, thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2025, Châu C liên hệ và đi đến phòng trọ của Ru B mua 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/7/2025, Châu C tiếp tục liên hệ trước với Ru B qua điện thoại, sau đó đến phòng trọ nêu trên mua của R1 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng, khi hai bên giao nhận ma túy và tiền xong thì Công an xã L, thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang. Khám xét phòng trọ của Ru B, Công an thu giữ 08 gói nylon chứa chất kết tinh không màu, Ru B khai là ma túy đá cất giấu để bán cho người khác.

Quá trình điều tra, Ru B đã khai nhận toàn hành vi của mình như trên. Ngoài 02 lần bán ma túy cho C1 Chờ nêu trên, Ru B còn khai nhận, ngày 17/7/2025 bán 01 gói ma túy đá cho một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) lấy số tiền 200.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 1639/KL-KTHS-MT ngày 31/7/2025 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

+ Một phong bì màu trắng được niêm phong (đánh số 01), có hình dấu của Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh và 02 dấu vân tay màu đỏ ghi “trỏ trái, trỏ phải, Võ Thị Ru B”, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Thanh H2, Trần Quốc T, Vũ Văn C2, Phan Quốc T1, C. Bên trong có 01 (một) gói nylon chứa chất kết tinh không màu (Ký hiệu mẫu A1). Mẫu A1 có khối lượng 0,0156 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

+ Một phong bì màu trắng được niêm phong (đánh số 02), có hình dấu của Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh và 02 dấu vân tay màu đỏ ghi “trỏ trái, trỏ phải, Võ Thị Ru B”, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Thanh H2, Trần Quốc T, Vũ Văn C2, Phan Quốc T1. Bên trong có 08 (tám) gói nylon chứa chất kết tinh không màu (Ký hiệu mẫu A2). Mẫu A2 có khối lượng 1,5365 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

+ Đối với 09 (chín) gói nylon chứa Methamphetamine và các phong bì nêu trên thì trong quá trình giám định mẫu vật đã sử dụng hết nên không trả lại các gói nylon và các phong bì.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động OPPO A55 màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động OPPO A17k màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng hiện đã chuyển đến Thi hành án dân sự Thành phố H (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13) chờ xử lý.

Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSKV13 ngày 16 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Võ Thị Ru B tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo, đồng thời đã phân tích hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra cũng như đặc điểm nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Võ Thị Ru B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Võ Thị R By mức án từ 08 đến 09 năm tù.

- Về biện pháp tư pháp: Buộc Võ Thị Ru B nộp lại số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động OPPO A55, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động OPPO A17k, màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng liên quan đến tội phạm.

Đối với Châu C có hành vi mua 0,0156 gam ma túy Methamphetamine của Võ Thị Ru B vào ngày bị bắt để sử dụng, nhưng khối lượng ma túy chưa đủ để xử lý hình sự đối với Châu C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự nên chuyển Cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu C.

Đối với người phụ nữ tên “Mỹ Hạnh” bán ma túy cho R By trước ngày 17/7/2025 và nam thanh niên mua ma túy của R1 vào ngày 17/7/2025, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau theo quy định.

Bị cáo đồng ý với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được sớm trở về phụ giúp chồng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có căn cứ kế luận:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 24/7/2025, tại Phòng trọ số F thuộc Tổ E, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra phát hiện Võ Thị Ru B bán cho C1 Chờ 01 gói nylon chứa chất kết tinh không màu, lấy số tiền 300.000 đồng, Ru B khai là ma túy đá. Lực lượng Công an khám xét Phòng trọ số 6 của R1 thu giữ thêm 08 gói nylon chứa chất kết tinh không màu, Ru B khai là ma túy đá cất giấu để bán nhằm thu lợi. Qua giám định 01 gói nylon chứa chất kết tinh không màu thu giữ quả tang là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0156 gam và 08 gói nylon chứa chất kết tinh không màu thu giữ của R1 tròng phòng trọ là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 1,5365 gam, tổng cộng 1,5521 gam.

Ngoài ra ngày 17/7/2025, Ru B còn bán cho một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) một gói ma túy đá (Methamphetamine) lấy số tiền 200.000 đồng và ngày 22/7/2025 Ru B bán cho C1 Chờ một gói ma túy đá (Methamphetamine) lấy số tiền 300.000 đồng đều tại Phòng trọ số 6 ở Tổ E, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

……………...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

………………..

Hành vi của Võ Thị Ru B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3]. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Võ Thị Ru B tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[4]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy và các chất gây nghiện khác; xâm phạm đến an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương, là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người cũng như cộng đồng xã hội và hành vi mua bán trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng vì coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Ngày 17/7/2025, R1 bán 01 gói ma túy cho một thanh niên không rõ lai lịch lấy số tiền 200.000 đồng và ngày 22/7/2025 bán cho C1 Chờ 01 gói ma túy lấy số tiền 300.000 đồng, tổng cộng là 500.000 đồng. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự buộc R1 nộp lại tổng số tiền thu lợi bất chính nêu trên để sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị buộc bị cáo nộp lại tổng số tiền thu lợi bất chính trên để sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 (hai) phong bì màu trắng được đánh số 01, 02 có hình dấu của Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong có 09 gói nylon chứa mẫu vật gửi đến giám định. Quá trình giám định mẫu vật đã được sử dụng hết nên Phòng K Công an Thành phố H không trả lại 02 phong bì màu trắng và 09 gói nylon, do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý các vật chứng nêu trên.

Đối với 01 (một) điện thoại di động OPPO A17k màu vàng thu giữ của Võ Thị Ru B và 01 (một) điện thoại di động OPPO A55 màu đen thu giữ của C là phương tiện bị cáo và Châu C liên lạc với nhau để mua bán ma túy, là tài sản có liên quan đến tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Võ Thị Ru B do bán ma túy mà có, là tài sản liên quan đến tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8]. Đối với Châu C có có hành vi mua 0,0156 gam ma túy Methamphetamine của Võ Thị Ru B để sử dụng, nhưng khối lượng ma túy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu C là phù hợp.

Đối với người phụ nữ tên Mỹ H3 bán ma tuý cho Ru B vào trước ngày 17/7/2025 và người thanh niên mua ma túy của R1 vào ngày 17/7/2025, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố Võ Thị Ru B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt Võ Thị Ru B: 08 (Tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2025.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Buộc Võ Thị Ru B nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động OPPO A17k màu vàng (Đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động OPPO A55 màu đen (Đã qua sử dụng) và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13) đang quản lý theo Biên lai thu tiền số 0011918 ngày 17 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H và Biên bản giao nhận vật chứng số 27/BB-PTHADS (13) ngày 18 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc Võ Thị Ru B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ