vanban.org

Bản án 08/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là V1):

1 Buộc anh Nguyễn Đức H1 phải trả cho Ngân hàng V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09-4-2026 là: 386.961.483đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi ba) đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu ba trăm chín mươi tư nghìn một tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng V - Nguyễn Đức Hải"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là V1):
  • Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/DS-ST
Ngày 09-4-2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Quyết;

Bà Lê Thị Mai Hương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025, về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2026/QĐST-DS ngày 24 tháng 03 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là V1); địa chỉ trụ sở: Tầng A, B tòa nhà S P, phường B, Quận A (nay là phường S), thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H, ông Vũ Văn T, bà Phạm Thị Tú U - đều là nhân viên Ngân hàng TMCP Q; Là những người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 218194.25 ngày 15-7-2025 của ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của VIB cho ông Nguyễn Đình T1 - Phó giám đốc khối Ngân hàng bán lẻ VIB và Văn bản ủy quyền số 232351.25 ngày 15-7-2025 của ông Nguyễn Đình T1 cho ông Đỗ Ngọc D - Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ vùng đơn vị Đông Bắc khối Ngân hàng bán lẻ VIB và Văn bản ủy quyền số 312972.25 ngày 07-10-025 của ông Đỗ Ngọc D cho ông Nguyễn Đức H, ông Vũ Văn T, bà Phạm Thị Tú U; ông H, ông T vắng mặt; bà U có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1994, số CCCD xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ (nay là Tổ dân phố Đ, phường Đ), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 10 năm 2025, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là V1) với anh Nguyễn Đức H1 đã thỏa thuận và ký Hợp đồng tín dụng như sau:

Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024, được giải ngân theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 104996314.24 ngày 21-5-2024, số tiền vay 450.000.000đồng; mục đích vay: Thanh toán mua xe ôtô nhãn hiệu Misubishi, số loại Xpander Premium, 1,5LAT; thời hạn vay 96 tháng, kể từ ngày 21-5-2024 đến ngày 21-5-2032; phương thức cho vay: Cho vay từng lần; kỳ hạn trả nợ gốc, lãi tiền vay: Khách hàng phải trả nợ gốc vào ngày 10 hàng tháng, mỗi tháng trả 4.687.000đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 10-6-2024; Trả nợ lãi: Vào ngày 10 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 10-6-2024. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10%/năm (lãi suất tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất này là lãi suất ưu đãi, được áp dụng trong 24 tháng đầu tiên của Hợp đồng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,90%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn bằng 10%/năm. Ngoài ra anh Nguyễn Đức H1 còn đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế tại VIB - V1, hạn mức 45.000.000đồng, mục đích vay tiêu dùng, V1 đã phê duyệt hạn mức thẻ tín dụng này cho anh H1. Hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận các nội dung liên quan đến quan hệ tín dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên. Đối với Hợp đồng này anh Nguyễn Đức H1 đã quá hạn từ ngày 10-02-2025 và tính đến ngày 09-4-2026 mới trả được nợ gốc 124.605.828đồng; nợ lãi 34.382.034đồng; nợ lãi quá hạn 254.100đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay, anh Nguyễn Đức H1 đã thế chấp tài sản là:

Xe ôtô con biển số 15K-296.31, nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: Xpander Premium 1.5AT, màu sơn: Đỏ, Số chỗ ngồi: 7; số khung: MK2LRNC1WSN002670; số máy: 4A91KCG5198 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 15 084009 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 20-5-2024 cho anh Nguyễn Đức H1, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0065234.24 ngày 21-5-2024 Công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng, địa chỉ: Số B H, phường A, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng, Số Công chứng 8648/HĐTC/2024; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21-5-2024 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 21-5-2024. V1 đã nhiều lần liên hệ, trao đổi, làm việc, đôn đốc anh H1 trả nợ cho Ngân hàng nhưng anh H1 cố tình chây ì, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do anh H1 đã vi phạm thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết nên VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh H1 phải trả cho V1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 09-4-2026 là 386.961.483đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đồng; nợ lãi trong hạn là 2.761.166đồng; nợ lãi quá hạn là 54.327.757đồng; lãi chậm trả lãi là: 364.497đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10-4-2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên VIB có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là:

Xe ôtô con biển số 15K-296.31, nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: Xpander Premium 1.5AT, màu sơn: Đỏ, Số chỗ ngồi: 7; số khung: MK2LRNC1WSN002670; số máy: 4A91KCG5198 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 15 084009 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 20-5-2024 cho anh Nguyễn Đức H1, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0065234.24 ngày 21-5-2024 Công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng, địa chỉ: Số B H, phường A, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng, Số Công chứng 8648/HĐTC/2024; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21-5-2024 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 21-5-2024.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa mở lần thứ hai nên không lấy được ý kiến của bị đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa và lời khai của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 116, 117, 118, 119, 280, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 464, 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 103, 107 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc anh Nguyễn Đức H1 phải trả cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09-4-2026 là: 386.961.483đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đồng; nợ lãi trong hạn là 2.761.166đồng; nợ lãi quá hạn là 254.100đồng theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10-4-2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp anh Nguyễn Đức H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên VIB có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mại tài sản bảo đảm là: Xe ôtô con biển số 15K-296.31, nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: Xpander Premium 1.5AT, màu sơn: Đỏ, Số chỗ ngồi: 7; số khung: MK2LRNC1WSN002670; số máy: 4A91KCG5198 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 15 084009 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 20-5-2024 cho anh Nguyễn Đức H1, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0065234.24 ngày 21-5-2024 Công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng, địa chỉ: Số B H, phường A, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng, Số Công chứng 8648/HĐTC/2024; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21-5-2024 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 21-5-2024. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản mà còn thừa thì trả lại cho anh Nguyễn Đức H1; trường hợp việc phát mại tài sản mà không đủ trả nợ cho V1 thì anh Nguyễn Đức H1 phải có nghĩa vụ thanh toán đủ cho VIB cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Anh Nguyễn Đức H1 phải nộp 19.348.074đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về Hợp đồng tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay để thanh toán mua xe ôtô nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là vụ án dân sự. Bị đơn cư trú tại Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ (nay là Tổ dân phố Đ, phường Đ), thành phố Hải Phòng nên theo Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6-Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Đức H1 vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai mà không vì lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nguyễn Đức H1.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của Ngân hàng đề nghị anh Nguyễn Đức H1 phải trả cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09-4-2026 là: 386.961.483đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đồng; nợ lãi trong hạn là 2.761.166đồng; nợ lãi quá hạn là 54.327.757đồng; lãi chậm trả lãi là: 364.497đồng theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 thấy:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa đã xác định được: Giữa Ngân hàng và anh Nguyễn Đức H1 có quan hệ Hợp đồng tín dụng. Theo đó Ngân hàng đã ký với anh Nguyễn Đức H1 Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024. Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ và đúng hạn cho bên vay theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 104996314.24 ngày 21-5-2024. Nhưng sau đó bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và không thanh toán đầy đủ các khoản nợ từ thời điểm ngày 10-02-2025 cho đến nay. Ngân hàng đã có các văn bản đôn đốc trả nợ nhiều lần nhưng không có kết quả. Tính đến ngày 09-4-2026 anh Nguyễn Đức H1 còn nợ Ngân hàng số tiền là: 386.961.483đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đồng; nợ lãi trong hạn là 2.761.166đồng; nợ lãi quá hạn là 54.327.757đồng; lãi chậm trả lãi là: 364.497đồng

Xét Hợp đồng tín dụng được ký giữa anh Nguyễn Đức H1 và đại diện của Ngân hàng có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên tham gia ký kết Hợp đồng đều có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 4, 7, 10, 12, 30, 31 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Do đó, Hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định trong Hợp đồng.

Xét yêu cầu đòi nợ gốc: Quá trình thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân và anh Nguyễn Đức H1 đã nhận đủ số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024, như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng; anh Nguyễn Đức H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 10-02-2025 cho đến nay mặc dù đã bị Ngân hàng Đ trả nợ nhiều lần và bằng nhiều hình thức nhưng vẫn chây ì không trả. Như vậy đủ cơ sở kết luận bị đơn đã vi phạm các điều khoản cam kết trong Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024, chậm thanh toán các khoản nợ đến hạn nên việc Ngân hàng kiện yêu cầu anh Nguyễn Đức H1 phải thanh toán số tiền nợ gốc là 325.394.172đồng theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 là có căn cứ được chấp nhận.

Xét yêu cầu đòi nợ lãi trong hạn: Căn cứ vào bảng tính lãi và các văn bản về lãi suất VIB cung cấp và theo sự thỏa thuận của các bên tại mục 2.6 của Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ ngày 21-5-2024 kèm theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024; phù hợp với quy định tại khoản 1, 3 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên yêu cầu đòi nợ lãi trong hạn của Ngân hàng có căn cứ được chấp nhận. Cụ thể tiền nợ lãi trong hạn tính đến ngày 09-4-2026 là 2.761.166đồng.

Xét yêu cầu đòi nợ lãi quá hạn: Theo quy định tại mục 1.4.6 của Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên yêu cầu đòi nợ lãi quá hạn có căn cứ được chấp nhận. Cụ thể tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày 09-4-2026 là 54.327.757đồng.

Đối với tiền nợ lãi chậm trả lãi: Theo quy định tại mục 1.4.6 của Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 hai bên thỏa thuận lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi chậm trả lãi hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên có căn cứ được chấp nhận. Tiền nợ lãi chậm trả lãi tính đến ngày 09-4-2026 là 364.497đồng.

Từ những nhận định trên, đủ căn cứ xác định: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (09-4-2026) anh Nguyễn Đức H1 còn nợ V1 tổng số tiền là: 386.961.483đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đồng; nợ lãi trong hạn là 2.761.166đồng; nợ lãi quá hạn là 54.327.757đồng; lãi chậm trả lãi là: 364.497đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của Ngân hàng V1 đề nghị phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng, anh Nguyễn Đức H1 đã ký với V1 Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0065234.24 ngày 21-5-2024 Công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng, địa chỉ: Số B H, phường A, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng, Số Công chứng 8648/HĐTC/2024; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21-5-2024 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 21-5-2024 với nội dung thế chấp tài sản là: Xe ôtô con biển số 15K-296.31, nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: Xpander Premium 1.5AT, màu sơn: Đỏ, Số chỗ ngồi: 7; số khung: MK2LRNC1WSN002670; số máy: 4A91KCG5198 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 15 084009 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 20-5-2024 cho anh Nguyễn Đức H1.

Việc thế chấp tài sản này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản tại Đà Nẵng theo đúng quy định của pháp luật. Xét hợp đồng thế chấp tài sản được ký giữa chủ tài sản với Ngân hàng, có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, được chứng thực của Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng và đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 21-5-2024 là phù hợp với quy định tại các Điều 298, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 10, điểm c khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; mục 6 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 61 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19-3-2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên có hiệu lực và là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên phải thực hiện. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07-01-2026 thể hiện nội dung: Khi xem xét thẩm định tại chỗ tại địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ (nay là Tổ dân phố Đ, phường N), thành phố Hải Phòng là nhà của anh Nguyễn Đức H1 không thấy xe ôtô con biển số 15K-296.31, nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: Xpander Premium 1.5AT, màu sơn: Đỏ, Số chỗ ngồi: 7; số khung: MK2LRNC1WSN002670; số máy: 4A91KCG5198, Ngân hàng cũng không biết hiện nay chiếc xe ôtô trên đang ở đâu. Hợp đồng tín dụng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và Hợp đồng thế chấp xe ôtô được ký kết, công chứng và đăng ký biện pháp bảo đảm đúng quy định của pháp luật nên việc không xác định được xe ôtô con biển số 15K-296.31 là tài sản thế chấp đang ở đâu tại thời điểm tranh chấp không làm vô hiệu Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ anh Nguyễn Đức H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V1 vẫn có quyền yêu cầu phát mại tài sản là xe ôtô con biển số 15K-296.31 này theo hướng dẫn tại mục 11 Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03-10-2023 giải đáp vướng mắc của Tòa án nhân dân tối cao. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên VIB có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mại tài sản bảo đảm như trên để thu hồi nợ là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn; Bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025;

Căn cứ các điều 116, 117, 118, 119, 280, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 100, 103, 107 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là V1):

1.1 Buộc anh Nguyễn Đức H1 phải trả cho Ngân hàng V1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09-4-2026 là: 386.961.483đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi ba) đồng trong đó nợ gốc là 325.394.172đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu ba trăm chín mươi tư nghìn một trăm bảy mươi hai) đồng; nợ lãi trong hạn là 2.761.166đ (Hai triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi sáu) đồng; nợ lãi quá hạn là 54.327.757đ (Năm mươi tư triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi bảy) đồng; lãi chậm trả lãi là: 364.497đ (Ba trăm sáu mươi tư nghìn bốn trăm chín mươi bảy) đồng theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2.2 Trường hợp anh Nguyễn Đức H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mại tài sản bảo đảm là: Xe ôtô con biển số 15K-296.31, nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại: Xpander Premium 1.5AT, màu sơn: Đỏ, Số chỗ ngồi: 7; số khung: MK2LRNC1WSN002670; số máy: 4A91KCG5198 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 15 084009 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 20-5-2024 cho anh Nguyễn Đức H1, được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0065234.24 ngày 21-5-2024 Công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng, địa chỉ: Số B H, phường A, quận L (nay là phường A), thành phố Hải Phòng, Số Công chứng 8648/HĐTC/2024; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21-5-2024 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 21-5-2024.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 thì anh Nguyễn Đức H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 104974415.24 ngày 21-5-2024.

Trường hợp phát mại tài sản thế chấp, nếu giá trị tài sản sau khi thanh toán cho V1 vẫn còn thừa thì V1 có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Đức H1.

2. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức H1 phải nộp số tiền 19.348.074đ (Mười chín triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn không trăm bảy mươi tư) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho V1 số tiền 9.993.059đ (Chín triệu chín trăm chín mươi ba nghìn không trăm năm mươi chín) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003690 ngày 13 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ