- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng PT - Hoàng V H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần PT đối với anh Hoàng V H.
- Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2026/DS-ST Ngày: 16 - 4 - 2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lưu Minh Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Lan.
2. Ông Nguyễn Thái Bình.
- Thư ký phiên tòa: bà Tăng Thị Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Bích Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2026/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2026/QĐST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần PT.
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T, số 57, phường N, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ M P - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn V L - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ khách hàng cá nhân - Khối Giám sát tín dụng và Xử lý nợ khách hàng cá nhân PT (theo Giấy ủy quyền số 05/2025/UQ-TPB.HĐQT ngày 10/01/2025).
Người được ủy quyền lại: ông Nguyễn M T, ông Cao V H.
Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng 12 Toà nhà H, số 8 đường 25/4, phường G, tỉnh Quảng Ninh (theo Giấy ủy quyền số 588/2025/GUQ-TPB.CM ngày 06/3/2025). Có mặt.
2. Bị đơn: anh Hoàng V H, sinh năm 1984.
Địa chỉ: tổ 6, khu Q, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2025, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/10/2025, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng thương mại cổ phần PT trình bày: căn cứ vào nhu cầu vay vốn của anh Hoàng V H, Ngân hàng thương mại cổ phần PT đã ký hợp đồng tín dụng với anh H, cụ thể như sau:
Ngân hàng thương mại cổ phần PT và anh Hoàng V H đã ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB.HLG ngày 02/8/2022 và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTP. HLG ngày 03/8/2022, với tổng số tiền vay 520.000.000đ (năm trăm hai mươi triệu đồng). Thực hiện hợp đồng nêu trên, PT đã giải ngân cho anh Hoàng V H ngày 03/8/2022, với tổng số tiền 520.000.000đ (năm trăm hai mươi triệu đồng).
- Thời hạn vay: 96 tháng (từ ngày 03/8/2022 đến ngày 03/8/2030).
- Ngày nhận nợ: 03/8/2022.
- Mục đích vay: vay thanh toán công nợ mua xe ô tô và mua bảo hiểm.
- Lãi suất cho vay: Lãi suất linh hoạt như sau: Lãi suất áp dụng trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân là 7,2%/năm; lãi suất áp dụng cho thời gian còn lại trong thời hạn vay vốn bằng lãi suất cơ sở kỳ KHCN 03 tháng của PT tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 4,3%/năm; Kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần.
- Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi vay trong hạn chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả áp dụng khi khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi vay theo quy định tại Hợp đồng.
- Phương thức trả nợ: tiền mặt và/hoặc chuyển khoản.
- Lịch trả nợ: trả lãi vay vào ngày 26 định kỳ 01 tháng/lần; kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 26/8/2022; kỳ trả nợ gốc nhiều lần theo lịch trả nợ do PT gửi khách hàng, định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 26.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là 01 chiếc xe ô tô mang nhãn hiệu Mitsubishi Triton Glx, màu trắng; số khung: MMBJLKK10PH19732; số máy: 4N15UJL8155; biển kiểm soát: 14C-351.62, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14000615 do Phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố C cấp ngày 02/8/2022 cho anh Hoàng V H.
.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng và các cam kết đã ký với PT, quá hạn gốc và quá hạn lãi ngày 27/11/2023. PT đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu anh Hưng thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng quy định nhưng anh H vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ.
Tính đến ngày 16/4/2026, tổng số tiền anh H đã thanh toán cho PT là 131.132.331 đồng (bao gồm nợ gốc là 81.249.990 đồng; nợ lãi 49.882.341 đồng).
Căn cứ theo các quy định của pháp luật, PT đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Hoàng V H phải trả nợ cho PT với các nội dung cụ thể như sau:
- Buộc anh Hoàng V H thanh toán ngay cho PT dư nợ tính đến ngày 16/4/2026 tổng cộng là 602.371.814đ (sáu trăm linh hai triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm mười bốn đồng), cụ thể như sau:
+ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ký ngày 02/8/2022 là 579.203.954 đồng; trong đó: nợ gốc 421.875.005 đồng; lãi trong hạn 108.404.923 đồng; lãi quá hạn 34.984.414 đồng; lãi chậm trả 13.939.612 đồng; số ngày quá hạn: 871 ngày.
+ Hợp đồng tín dụng số 177/2022/HDTD/TTB.HLG ký ngày 03/8/2022 là 23.167.860 đồng; trong đó: nợ gốc 16.875.005 đồng; lãi trong hạn 4.335.955 đồng; lãi quá hạn 1.399.373 đồng; lãi chậm trả 557.527 đồng; số ngày quá hạn: 871 ngày.
- Buộc anh Hoàng V H thanh toán các khoản phát sinh trên số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và các thỏa thuận khác đã ký cho đến khi thanh toán hết các nghĩa vụ của PT.
- Trong trường hợp kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực mà anh Hoàng V H không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho PT thì PT có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô Mitsubishi Triton Glx, màu trắng; số khung: MMBJLKK10PH19732; số máy: 4N15UJL8155; biển kiểm soát: 14C-351.62, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14 000615 do Phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố C cấp ngày 02/8/2022 cho anh Hoàng V H.
- Trường hợp số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Hoàng V H có nghĩa vụ phải tiếp tục trả hết khoản nợ cho PT.
PT bổ sung yêu cầu khởi kiện: yêu cầu chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ký ngày 02/8/2022 (phần tín dụng “Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay”) và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ký ngày 03/8/2022 được ký giữa PT và anh Hoàng V H.
Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn anh Hoàng V H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, quyết định xem xét thẩm định tại chỗ; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; anh Hoàng V H cũng được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt tại Tòa án.
Tại biên bản làm việc ngày 17/3/2026, chị Hoàng T H cho biết: chị là chị gái ruột của anh H ở cùng nhà với anh H. Anh H đi làm ăn vắng nhà từ tháng 11/2025, anh có cho gia đình biết là đi làm ăn trong Thanh Hóa, anh H thỉnh thoảng về nhà, nhưng không nói rõ cho gia đình biết địa chỉ cụ thể. Những giấy tờ mà Tòa án và Trưởng khu giao nhận gia đình đã thông báo, giao tận tay cho anh H, nhưng anh H nói với gia đình là việc riêng của anh H, tự anh xử lý. Trước đây anh H có xe ô tô nhưng chị không nhớ nhãn hiệu gì, trước khi đi làm ăn xa chị vẫn thấy H đi xe.
Tại biên bản xác minh ngày 05/01/2026 có sự tham gia của Trưởng khu T, phường Q có nội dung: anh H có đăng ký hộ khẩu tại tổ 6, khu T, phường Q. Theo gia đình cho biết, từ tháng 11/2025 anh H đi làm ăn xa trong Thanh Hóa không rõ địa chỉ cụ thể, thỉnh thoảng có về thăm gia đình, có lúc ông nhìn thấy anh H về. Ông đã nhận các giấy tờ Tòa án giao và đưa lại cho bà T (mẹ anh H) và chị gái anh H ở cùng nhà đã thông báo cho anh H biết.
Tại văn bản số 1203/CSGT ngày 26/3/2026 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q có nội dung: kể từ ngày đăng ký lần đầu 02/8/2022 xe ô tô 14C-351.62 không có lịch sử thay đổi thông tin trên hệ thống đăng ký xe.
Tại văn bản số 05/CV-TTĐK ngày 13/12/2025 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 14-07D có nội dung: thời điểm hiện tại phương tiện mang BKS 14C-351.62 chưa có thay đổi về thông tin hành chính.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn Ngân hàng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng như nêu trên, căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh nhận thấy:
Căn cứ Điều 292, 299, 317, 319, 422, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của PT về việc yêu cầu anh H trả nợ gốc, nợ lãi (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn), yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và chấm dứt hợp đồng tín dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo đơn của Ngân hàng thương mại cổ phần PT có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; người bị kiện anh Hoàng V H, trú tại phường Q, tỉnh Quảng Ninh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 (khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án) và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Hoàng V H theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng anh H không đến Tòa án để thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình. Vì vậy anh Hoàng V H phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Việc giao kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB.H LG ngày 02/8/2022 và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTP.HLG ngày 03/8/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần PT với anh Hoàng V H là do các bên tự thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Các tổ chức tín dụng và các quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần PT. Hợp đồng tín dụng và đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô nêu trên đã phát sinh hiệu lực, PT đã giải ngân, anh Hoàng V H đã nhận đủ số tiền vay theo Hợp đồng cho vay. Thời gian đầu của khoản vay, anh H đã thanh toán nợ cho PT theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 131.132.331 đồng (bao gồm nợ gốc là 81.249.990 đồng; nợ lãi 49.882.341 đồng), từ ngày 27/11/2023, anh H đã không thanh toán được nợ theo thỏa thuận và phát sinh nợ quá hạn gốc, lãi. PT đã đôn đốc, làm việc nhiều lần nhưng anh H không thực hiện việc trả nợ và không tự nguyện bàn giao, xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ cho PT.
Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, PT giữ nguyên quan điểm khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Hoàng V H phải trả cho PT tổng số tiền nợ phát sinh theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB.H LG ngày 02/8/2022 và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTP.HLG ngày 03/8/2022, tính đến ngày 16/4/2026 là là 602.371.814đ (sáu trăm linh hai triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm mười bốn đồng), cụ thể như sau:
+ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ký ngày 02/8/2022 là 579.203.954 đồng; trong đó: nợ gốc 421.875.005 đồng; lãi trong hạn 108.404.923 đồng; lãi quá hạn 34.984.414 đồng; lãi chậm trả 13.939.612 đồng.
+ Hợp đồng tín dụng số 177/2022/HDTD/TTB.HLG ký ngày 03/8/2022 là 23.167.860 đồng; trong đó: nợ gốc 16.875.005 đồng; lãi trong hạn 4.335.955 đồng; lãi quá hạn 1.399.373 đồng; lãi chậm trả 557.527 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy việc PT khởi kiện đối với anh H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phải thanh toán toàn bộ các khoản nợ phát sinh (bao gồm cả thu hồi các khoản nợ gốc trước hạn) theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB.H LG ngày 02/8/2022 và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTP.HLG ngày 03/8/2022 là đúng với thỏa thuận tại các Hợp đồng đã ký kết giữa các bên đương sự, phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các Điều 317, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về hiệu lực của hợp đồng tín dụng: quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn PT có yêu cầu bổ sung đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 02/8/2022 (phần tín dụng “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay”) và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 03/8/2022 đã ký giữa PT và anh Hoàng V H. Xét thấy yêu cầu của PT không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, vì vậy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự và theo nội dung khởi kiện của PT về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh H phải trả toàn bộ các khoản nợ phát sinh (bao gồm cả các khoản nợ thu hồi trước hạn) theo các Hợp đồng tín dụng này. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải tuyên chấm dứt hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ký ngày 02/8/2022 (phần tín dụng “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay”) và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 03/8/2022 theo quy định tại khoản 4 Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.4] Về hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp và việc xử lý tài sản thế chấp:
- Về tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay: theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 02/8/2022 và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 03/8/2022 ký kết giữa PT với anh H thì thấy tài sản thế chấp của bên thế chấp để đảm bảo khoản vay là 01 chiếc xe ô tô mang nhãn hiệu Mitsubishi Triton Glx, màu trắng; số khung: MMBJLKK10PH19732; số máy: 4N15UJL8155; biển kiểm soát: 14C-351.62, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14 000615 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C cấp ngày 02/8/2022 cho anh Hoàng V H.
- Việc xử lý tài sản bảo đảm: xét yêu cầu của PT buộc bị đơn anh H phải xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay của các hợp đồng tín dụng là có căn cứ, vì: việc ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG giữa PT với anh H để thế chấp tài sản giữa PT với anh H là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật; tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh H và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định, phù hợp với quy định tại Điều 317, Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ, nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng V H không hợp tác, Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương, cơ quan Công an và Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 14-07D nhưng không xác định được ô tô là tài sản thế chấp đang ở đâu, chỉ có thông tin không có lịch sử thay đổi thông tin trên hệ thống đăng ký xe, thời điểm hiện tại phương tiện mang BKS 14C-351.62 chưa có thay đổi về thông tin hành chính, do đó không thể tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Tham chiếu Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Toà án nhân dân tối cao “về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử”, do bị đơn không trả được nợ cho ngân hàng, thì ngân hàng có quyền yêu cầu bị đơn giao tài sản để ngân hàng xử lý, nếu bị đơn không tự nguyện giao thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay của hợp đồng tín dụng để thu hồi nợ là có căn cứ, theo quy định tại Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của PT về việc đề nghị được xử lý tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 02/8/2022 và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 03/8/2022 trong trường hợp anh H không thanh toán được khoản nợ. Phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả của khoản vay này cho PT.
[3] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng:
Về án phí: anh Hoàng V H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần PT tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Quảng Ninh, do yêu cầu của PT được Tòa án chấp nhận.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: bị đơn không đưa tài sản thế chấp về để xem xét, thẩm định, do đó không phát sinh chi phí tố tụng.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 (khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án), điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 119, 280, khoản 1 Điều 298, 299, 303, 317, 320, 357, 365, khoản 4 Điều 422, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần PT đối với anh Hoàng V H.
2. Tuyên bố chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 02/8/2022 (phần tín dụng “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay”) và Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 03/8/2022 đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần PT với anh Hoàng V H.
3. Về nghĩa vụ trả nợ:
Buộc anh Hoàng V H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần PT số tiền vay theo Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 03/8/2022 và Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ngày 02/8/2022, PT đã ký với anh Hoàng V H, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/4/2026) tổng số tiền là: 602.371.814đ (sáu trăm linh hai triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm mười bốn đồng); trong đó: nợ gốc 438.750.010 đồng; lãi trong hạn 112.740.878 đồng; lãi quá hạn 36.383.787 đồng; lãi chậm trả 14.497.139 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/4/2026) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, anh Hoàng V H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 177/2022/HDTD/TTB-HLG ký kết ngày 03/8/2022 và Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 295/2022/HDTD/TTB-HLG ký kết ngày 02/8/2022 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Kể từ ngày Ngân hàng thương mại cổ phần PT có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Hoàng V H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền gốc, lãi nêu trên thì PT có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của anh Hoàng V H theo quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp là: 01 chiếc xe ô tô mang nhãn hiệu Mitsubishi Triton Glx, màu trắng; số khung: MMBJLKK10PH19732; số máy: 4N15UJL8155; biển kiểm soát: 14C-351.62, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14 000615 do Phòng cảnh sát giao thông Công an thành phố C cấp ngày 02/8/2022 cho anh Hoàng V H.
Trường hợp số tiền xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần PT thì anh Hoàng V H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần PT cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
4. Về án phí: anh Hoàng V H phải chịu 28.094.872đ (hai mươi tám triệu không trăm chín mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần PT số tiền 13.229.514đ (mười ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn năm trăm mười bốn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001355 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
5. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/4/2026. Vắng mặt bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực A - Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - THADS tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HSVA - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Minh Đoàn |