vanban.org

Bản án 08/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

V ội danh à h nh phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn B 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/3/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn B phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? V ội danh à h nh phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HSST
Ngày 26-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Mai và bà Lê Bích Thuận.

- Thư ký phiên toà: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/HSST-QĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn B, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 15/9/1991 tại xã ME, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản CV, xã ME (Trước đây là bản CV, xã ME, huyện TC), tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T (đã chết) và bà Lò Thị N, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, chưa con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 3 năm 2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 12/3/2025, Tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã CK, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực trên đường quốc lộ 6B thuộc địa phận bản Ca, xã CK (trước đây là xã CK, huyện QN), tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang Lò Văn B có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) hộp giấy cứng màu đen bên trong có: 01 (một) gói nilon màu trắng chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) túi nilon màu tím than hàn kín bên trong đựng 80 (tám mươi) viên dạng nén màu hồng và 02 (hai) viên nén màu xanh nghi là ma túy, trên một mặt các viên nén màu xanh và màu hồng có chữ “WY”, phát hiện thu giữ tại giá đựng đồ xe máy của Lò Văn B (Theo Lò Văn B khai nhận là ma túy).

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 16 Pro màu be màn hình cảm ứng, gắn số thuê bao 0865.333.896 số EIP 8904903200748882600199436941975, IMEI1: 353870307185222, IMEI2: 353870307102540 đã qua sử dụng.

01 (một) xe máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu đen biển kiểm soát: 26B2-598.06; số khung: 0610JY654225; số máy G3D4E681158 + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 087495 mang tên Lò Văn Cách, bản Nà Hừa, xã Nặm Ét, huyện QN, do Phòng CSGT Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 10/11/2020.

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 13/3/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy m u giám định; Kết quả: Chất bột cục màu trắng nghi là Heroine có khối lượng 8,13 gam, trích rút 0,3 gam ký hiệu A1 gửi giám định; 80 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 7,69 gam, trích rút 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,52 gam ký hiệu A2 gửi giám định, 02 viên nén màu xanh có khối lượng 0,19 gam, trích rút toàn bộ 0,19 gam ký hiệu A3 gửi giám định. Còn lại 7,60 gam chất cục bột màu trắng, ký hiệu B1 và 75 viên nén màu hồng có khối lượng 7,17 gam, ký hiệu B2 nhập kho vật chứng.

Kết luận giám định số: 381/KL-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: M u gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của m u gửi giám định là 0,53gam.

M u gửi giám định ký hiệu A2 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,52 gam.

M u gửi giám định ký hiệu A3 không phải là ma túy; khối lượng của m u gửi giám định là 0,19 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn B là 8,13 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 7,69gam loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự: Chất ma túy loại Heroine có khối lượng 8,13 gam và Methamphetamine có khối lượng 7,69 gam thì tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Lò Văn B là 15,82 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 04/3/2025, Lò Văn B đang ở khu vực BT, thuộc xã PL, huyện TC thì B gọi điện thoại cho một người đàn ông tên là N , nhà ở bản PC, xã MB, huyện TC để hỏi mua ma túy của N với mục đích để mang về bán kiếm lời và sử dụng, qua trao đổi N có ma túy và đồng ý bán ma túy cho B, sau đó B và N hẹn nhau ở rìa rừng thuộc xã MB, huyện TC để mua bán ma túy. Sau khi trao đổi xong, B một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 26B2-598.06 từ xã PL đi lên xã MB, huyện TC để mua ma túy. Khoảng 21 giờ cùng ngày thì B đến chỗ hẹn, B đi vào một lán nhỏ bỏ hoang giữa nương cạnh rìa rừng, rồi B gọi điện cho Nhìa là đã đến nơi, B đợi Nhìa khoảng 10 phút thì N đi bộ ở trong rừng ra. Tại đây hai bên trao đổi mua bán ma túy và B đã đưa cho N số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng); N đưa cho B 01 gói nilon màu trắng chứa ma túy loại Heroine; 01 túi nilon màu tím than đựng 100 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh. Sau khi mua ma túy xong, Bướng cất giấu ma túy ở túi quần bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe về xã PL, huyện TC và ở lại xã PL, trong khoảng thời gian từ 04/3/2025 đến ngày 12/3/2025 Lò Văn B đã sử dụng hết 20 viên ma túy tổng hợp và một lượng Heroine mua được. Tối ngày 11/3/2025 có Quàng Thị L, sinh năm 2001, trú tại bản CV, xã ME, huyện TC, tỉnh Sơn La nhắn tin rủ Lò Văn B ngày 12/3/2025 cùng vào huyện QN chơi, B đồng ý và hẹn gặp nhau ở ngoài đường thuộc xã CL, huyện TC. Ngày 12/3/2025 Lò Văn B cầm theo số ma túy còn lại mua của N đi vào trong huyện QN, khoảng 9 giờ, cùng ngày Quàng Thị L và Lò Văn B gặp nhau ở xã Chiềng La và tiếp tục hẹn nhau vào nhà nghỉ trung tâm huyện QN để tâm sự, sau đó Quàng Thị L điều khiển xe của Lả đi trước, Bướng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B2-598.06 đi theo sau, do trước đó Lò Văn S, sinh ngày 04/9/2000, trú tại bản KL, xã PL, huyện TC có hỏi mua ma túy của B nên B đã gọi điện cho Lò Văn S bán ma túy cho S nhưng Sơn không ở nhà nên hai bên hẹn chiều tối cùng ngày B sẽ mang ma túy bán cho S, sau khi gọi điện thoại xong, Lò Văn B lấy số ma túy cất vào hộp cứng màu đen để tại giá để đồ của xe mô tô rồi tiếp tục điều khiển xe vào huyện QN, khi đến đoạn đường quốc lộ 6B thuộc bản Ca, xã CK, huyện QN thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Sơn La và Công an xã CK phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 03/CT- VKSTC ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Lò Văn B từ 10 (mười) năm tù đến 11 (mười một) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 7,60 gam ma túy, loại Heroine và 7,17 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi trích rút giám định; 01 hộp giấy cứng màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng được đựng trong bìa hồ sơ màu vàng đậm do Bộ Công an phát hành.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 16 Pro màu be, gắn số thuê bao 0865.333.896; 01 chiếc xe máy YAMAHA, hiệu Exciter, màu đen, BKS 26B2-598.06 kèm theo là 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 087495 mang tên Lò Văn Cách thu giữ của bị cáo Lò Văn B.

(Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn B.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn B thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ngày 12/3/2025 bị cáo Lò Văn B đã có hành vi cất giữ trái phép tổng khối lượng chất ma túy là 15,82 gam; trong đó 8,13 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 7,69 gam chất ma túy, loại Methamphetamine trong người với mục đích để bán kiếm lời và sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực Bản Ca, xã CK, huyện QN, tỉnh Sơn La (Nay là bản Ca, xã QN, tỉnh Sơn La).

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 12/3/2025; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 381/KL-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép tổng khối lượng chất ma túy là 15,82 gam; trong đó 8,13 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 7,69 gam chất ma túy, loại Methamphetamine trong người với mục đích để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện của bị cáo Lò Văn B đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Lò Văn B mục đích mua bán trái phép chất ma túy để hưởng lợi, thu lợi bất chính là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ ông Lò Văn T được tặng thưởng huân chương chiến công hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn B không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên là N, người đã bán ma túy cho Lò Văn B vào ngày 04/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành rà soát xác minh trên địa bàn xã MB, tỉnh Sơn La thì có đối tượng Sùng A N, sinh năm 1984, địa chỉ bản T, xã MB, tỉnh Sơn La có đặc điểm tương đối phù hợp với người cần xác minh, nhưng qua nhiều lần xác minh Sùng A N đều không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết Nhìa đi đâu, làm gì, do đó ngày 01/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tách hành vi bán trái phép chất ma túy của đối tượng Sùng A N để tiếp tục điều tra, xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Lò Văn S, sinh ngày 04/9/2000, trú tại bản KL, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La (nay là bản KL, xã BT, tỉnh Sơn La) là người điện thoại trao đổi mua ma túy của Lò Văn B vào ngày 12/3/2025 nhưng hai bên chưa thống nhất khối lượng ma túy cụ thể, số tiền sẽ giao dịch thì Lò Văn B đã bị bắt. Do đó Cơ quan CSĐT không có đủ căn cứ để xử lý đối với Lò Văn S là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Quàng Thị L, sinh năm 2001, trú tại bản CV, xã ME, huyện TC, tỉnh Sơn La (nay là bản CV, xã ME, tinh Sơn La). Quá trình điều tra xác định được việc Lò Văn B cất giấu, mua bán trái phép chất ma túy, Quàng Thị L không biết, không liên quan. Do đó Cơ quan CSĐT không đặt ra vấn đề xử lý đối với Quàng Thị L là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vật chứng vụ án: Đối với 7,60 gam ma túy, loại Heroine và 7,17 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi trích rút giám định; 01 hộp giấy cứng màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng được đựng trong bìa hồ sơ màu vàng đậm do Bộ Công an phát hành là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 16 Pro màu be, gắn số thuê bao 0865.333.896; 01 chiếc xe máy YAMAHA, hiệu Exciter, màu đen, BKS 26B2-598.06 kèm theo là 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 087495 mang tên Lò Văn C (là tài sản của bị cáo mua lại của Lò Văn C, tuy nhiên sau khi thực hiện xong hợp đồng mua bán bị cáo v n chưa làm thủ tục cấp đổi lại giấy phép lái xe) thu giữ của bị cáo Lò Văn B là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Lò Văn B thuộc diện hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. V ội danh à h nh phạt:

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn B 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/3/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. V ậ chứng ụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 7,60 gam ma túy, loại Heroine và 7,17 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi trích rút giám định; 01 hộp giấy cứng màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng được đựng trong bìa hồ sơ màu vàng đậm do Bộ Công an phát hành.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 16 Pro màu be, gắn số thuê bao 0865.333.896; 01 (một) chiếc xe máy YAMAHA, hiệu Exciter, màu đen, BKS 26B2-598.06 kèm theo là 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 087495 mang tên Lò Văn Cách.

(Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

3. V án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn B.

4. V quy n kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ