vanban.org

Bản án 08/2025/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 08/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 157/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cao N bi xet xu ve toi danh bac - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-PT
Ngày: 08 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Giàu

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu

Ông Võ Thanh Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 251/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L, Nguyễn Thị Hồng N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1990 tại tỉnh Tiền Giang; Tên gọi khác: T Đen, T Mập; Căn cước công dân số: 082090011338; Nơi cư trú: Ấp K P, xã T H Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc Q và bà Trần Thị N; Bị cáo có vợ là Phạm Thị Minh H và có 04 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Tấn T, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2001 tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: T Bún; Căn cước công dân số: 082201012531; Nơi cư trú: Ấp T P, xã T H T, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Minh H và bà Ngô Thị N; Bị cáo có vợ là Phùng Thị Thúy H và có 02 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Phan Ngọc L, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1996 tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: T; Căn cước công dân số: 082096000216; Nơi cư trú: Ấp K P, xã T H Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Hữu H và bà Mai Thị Q; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1975 tại tỉnh Bạc Liêu; Căn cước công dân số: 095175000647; Nơi thường trú: Ấp T H, xã L Đ T, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện nay: Số A, đường H A, khu phố T T 2, phường T K, thành phố Tân An, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu Đ và bà Trương Thị A; Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn H (đã ly hôn) và có 03 người con;

Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần: Năm 2023, bị Công an huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 12/01/2023, đóng phạt ngày 12/01/2023; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án có 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 15/8/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phần đất trống thuộc ấp T H, xã T H Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang có nhiều đối tượng tụ tập đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền nên Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện Châu Thành và Công an xã T H Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra, khi lực lượng Công an đến các đối tượng bỏ chạy. Lực lượng tiến hành lập biên bản đối với 05 đối tượng đang có mặt tại hiện trường cùng nhiều vật chứng sử dụng vào việc lắc tài xỉu, trong đó thu giữ trên chiếu bạc số tiền tang vật là 400.000 đồng.

Kết quả điều tra xác định: Địa điểm đánh bạc trên do Nguyễn Ngọc T, Phan Ngọc L và Phạm Tấn T tổ chức. Trong đó, Nguyễn Ngọc T làm nhiệm vụ tổ chức chung, Trường chọn địa điểm là khu bờ đê, vắng người qua lại, sau đó dựng lều che nắng/mưa, trang bị đèn, bàn, ghế ... phục vụ cho việc đánh bạc, Trường cũng là người chuẩn bị dụng cụ tài xỉu, kêu gọi người chơi đánh bạc đến chơi, T không trực tiếp thu tiền từ nhà cái mà khi có “Bão” thì chia đôi với nhà cái.

Để giúp sức cho việc tổ chức đánh bạc, T rủ Phạm Tấn T và Phan Ngọc L làm nhiệm vụ chạy xe mô tô và chèo xuồng đưa rước những người chơi đánh bạc đến địa điểm đánh bạc, T, L trực tiếp nhận tiền công đưa rước từ những người chơi bạc cho. T điều khiển xe mô tô biển số 63AC-058.83 rước những người chơi đánh bạc từ chân cầu vượt số 8, thuộc ấp B A B, xã L B N, thành phố Tân An, tỉnh Long An, còn L điều khiển xe mô tô (không nhớ loại xe, biển số) mượn của những người chơi đánh bạc để rước những người chơi đánh bạc tại quán cà phê không tên của anh Lê Minh C, địa chỉ tại ấp T H, xã T H Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đến trước nhà anh Nguyễn Văn U địa chỉ tại ấp B A B, xã L B N, thành phố Tân An, tỉnh Long An, sau đó T và L sử dụng 01 chiếc xuồng có sẵn để đưa những người chơi đánh bạc qua Rạch Ông Đạo, đi bộ đến địa điểm chơi tài xỉu.

Cách thức chơi tài xỉu là người làm cái dùng 03 hột xí ngầu, mỗi hột có sáu mặt, mỗi mặt đều có nút thứ tự từ 01 đến 06, 03 hột xí ngầu để trong một cái dĩa và có nắp đậy. Khi lắc nếu điểm số trên mặt ba hột xí ngầu cộng lại từ 4 đến 10 thì bên xỉu thắng, còn số điểm từ 11 đến 17 thì bên tài thắng, tỷ lệ ăn thua là 1 ăn 1. Ngoài ra, người chơi còn đặt cụ thể vào từng con số nếu trúng thì tính theo tỷ lệ được quy định trước. Trường hợp nếu lắc được cả ba hột xí ngầu có cùng một mặt giống nhau gọi là “Bão” trường hợp ba con giống nhau từ 01 đến 03 thì người lắc hòa với bên xỉu, thắng bên tài và ngược lại nếu ba con giống nhau từ 04 đến 06 thì người lắc hòa với bên tài, thắng bên xỉu. Ngày 15/8/2023, địa điểm tài xỉu được tổ chức từ khoảng 14 giờ do một thanh niên ở Bến Tre (không rõ nhân thân cụ thể) làm cái lắc tài xỉu cho Nguyễn Thị Hồng N, Trần Văn D, Hồ Thị Mỹ L và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân địa chỉ) chơi đánh bạc với số tiền đặt trên chiếu bạc mỗi ván từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Các đối tượng khai đặt cược tài xỉu vào ngày 15/8/2023 cụ thể như sau:

- Hồ Thị Mỹ L: tham gia đặt 02 ván bên xỉu, số tiền mỗi ván 100.000 đồng, kết quả 2 ván đều ra tài, L thua 100.000 đồng/ván. Tổng số tiền đánh bạc của L là 400.000 đồng.

- Nguyễn Thị Hồng N: tham gia đặt 02 ván tài xỉu. Ván thứ nhất: đặt tài số tiền 100.000 đồng, kết quả ra xỉu, Nhung thua 100.000 đồng. Ván thứ hai: N tham gia đặt cược bên tài với số tiền 50.000 đồng, kết quả mở ra tài, N thắng 50.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của N là 300.000 đồng.

- Trần Văn D: tham gia đặt 02 ván tài xỉu. Ván thứ nhất: đặt tài 200.000 đồng, kết quả ra xỉu, Dán thua 200.000 đồng. Ván thứ hai: đặt tài 200.000 đồng, kết quả ra tài, D thắng 200.000 đồng, nhà cái chung chi cho D 200.000 đồng để trên chiếu bạc cùng với số tiền đánh bạc của D, nhưng chưa kịp lấy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trên chiếu bạc số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng. Tổng số tiền đánh bạc của D là 800.000 đồng.

Qua điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận đã tổ chức đánh bạc ở địa điểm trên 04 ngày từ ngày 12/8 đến ngày 15/8/2023, số tiền thu lợi bất chính là 1.250.000 đồng. Riêng Phạm Tấn T tham gia 03 ngày từ ngày 13/8 đến ngày 15/8/2023, thu lợi bất chính 250.000 đồng, Phan Ngọc L tham gia 02 ngày là ngày 14 và 15/8/2023 thu lợi bất chính được 200.000 đồng (tiền này do T cho). Vào các ngày 12, 13 và ngày 14/8/2023 thì T, T, L không xác định được người làm cái và những người chơi đánh bạc cũng như số tiền chơi đánh bạc.

Đây là vụ án có đồng phạm thuộc trường hợp giản đơn, Nguyễn Ngọc T là người khởi xướng, rủ rê, phân công Phạm Tấn T, Phan Ngọc L phục vụ đưa rước những người chơi đánh bạc đến địa điểm đánh bạc. T và L vai trò giúp sức tích cực cho T tổ chức địa điểm đánh bạc tại ấp T H, xã T H Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Nguyễn Thị Hồng N tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, 02 ván tài xỉu, với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 300.000 đồng, do có tiền sự về hành vi “Đánh bạc” nên N phải chịu trách nhiệm hình sự..

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Đánh bạc”.

1. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội tổ chức đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Phạm Tấn T 01 (Một) năm tù về tội tổ chức đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Phan Ngọc L 01 (Một) năm tù về tội tổ chức đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 06 (Sáu) tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 26, 27 tháng 9 và ngày 01 tháng 10 năm 2024 các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L, Nguyễn Thị Hồng N có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L rút yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo T, T, L rút yêu cầu kháng cáo nên xem xét đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo. Riêng bị cáo N giữ yêu cầu kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới để xem xét, kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị căn cứ điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ, vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đới với các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng N giữ yêu cầu kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo N tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 300.000 đồng, do bị cáo N có tiền sự về hành vi đánh bạc nên truy tố và xét xử sơ thẩm bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo nhưng qua xem xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương, gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, bị cáo N đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vẫn tiếp tục thực hiện là xem thường pháp luật, không đảm bảo điều kiện để được hưởng án treo; tất cả các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết nào mới. Hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

- Các phần khác của quyết định án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, đ khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phạm Tấn T, Phan Ngọc L.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng N.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 157/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm “Tội đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 06 (Sáu) tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ