vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Văn U 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn U - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 10-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Minh

Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 265/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn U, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 tại tỉnh An Giang. Căn cước công dân: 089085010087. Nơi thường trú: Tổ 9, ấp M, xã H, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Đường D, Tổ 18, Khu phố 4, phường M, th nh phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ h c vấn: Biết đ c, biết viết nhưng không đi h c; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị Đ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Chị Đinh Thị Ng c T, sinh năm 1999 (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1963 v b Đinh Thị N, sinh năm 1964 (cha, mẹ ruột của bị hại); cùng nơi cư trú: Tổ 2, ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Ông T và bà N cùng ủy quyền cho anh Đinh Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước tham gia tố tụng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Đinh Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; có mặt.

+ B Lưu Thị T, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khóm S, phường A, th nh phố H, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Đinh Thị Ng c T có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải Th nh phố Hồ Chí Minh cấp ng y 29/10/2018, có giá trị không thời hạn. Lê Văn U không có Giấy phép lái xe hạng A1.

Khoảng 17 giờ 30 phút ng y 24/3/2024, Lê Văn U điều khiển xe môtô hiệu Honda Vision, dung tích 108cm3, biển số 67B2 – 519.32 chở b Lưu Thị T lưu thông trên đường L, hướng từ giao lộ đường L v đường Võ Nguyên Giáp đến giao lộ đường Lê Lợi v đường Lê Lai. Khi đến đoạn qua Khu phố 4, phường Hòa Phú, th nh phố Thủ Dầu Một, U điều khiển xe lưu thông trên l n đường d nh cho xe môtô với tốc độ khoảng 35 đến 40 km/h; lúc này, U thấy phía trước cùng chiều đi của U có xe môtô Honda Vision, dung tích 108cm3, biển số 93M1- 322.89 do chị Đinh Thị Ng c T điều khiển trên l n đường d nh cho xe môtô (sát hành lang an to n đường bộ) với tốc độ chậm, U liền tăng ga cho xe chạy vượt lên bên trái để đi trước, nhưng không báo hiệu bằng đèn hoặc còi cho chị T biết, đã để tay phanh bên phải xe môtô biển số 67B2 - 519.32 do U điều khiển va chạm v o đầu ngo i tay lái bên trái của xe môtô biển số 93M1-322.89 do chị T điều khiển, l m cho chị T và xe ngã xuống đường, chị T bị thương bất tỉnh, xe môtô biển số 67B2 – 519.32 do U điều khiển tiếp tục chạy chạy về phía trước lấn sang phần đường của chiều đi ngược lại khoảng 70 mét thì b Thủy ngã xuống đường nhưng không bị thương, còn U v xe đi được khoảng 20 mét thì ngã xuống đường, U bị sây sát da.

Sau khi xảy ra va chạm, chị T được người dân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương để cấp cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy Th nh phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị, đến ng y 25/3/2024 chị T chết.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông được lập v o ng y 24/3/2024 của Đội Cảnh sát Giao thông – Trật tự Công an th nh phố Thủ Dầu Một v Biên bản dựng lại hiện trường, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông được lập v o ng y 14/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một xác định như sau:

Hiện trường chung: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông nằm trên đường Lê Lợi, thuộc Khu phố 4, phường Hòa Phú, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương l đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng, mặt đường chia l m 02 phần đường xe chạy ngược chiều nhau, mỗi phần đường có 03 l n đường xe chạy, phân biệt bằng vạch kẻ đường nét liền, có chiều rộng lần lượt l 4,5 mét, 3,7 mét, 3,7 mét tính từ h nh lang an to n đường bộ ra vạch kẻ đường phân biệt l n đường. Chiều đi xảy ra tai nạn l chiều đi bên phải theo hướng từ đường Võ Nguyên Giáp về đường Lê Lai.

Điểm mốc: Lấy trụ đèn chiếu sáng số 250 trên h nh lang đường bộ đường Lê Lợi theo chiều đi bên phải từ đường Võ Nguyên Giáp về hướng đường Lê Lai l m cột mốc hiện trường số 1. Lấy trụ đèn chiếu sáng số 251 trên h nh lang an to n đường bộ bên phải của đường Lê Lợi theo hướng từ đường Lê Lai về hướng đường Võ Nguyên Giáp l m cột mốc hiện trường số 2.

Mép đường chuẩn: Lấy mép đường bên phải đường Lê Lợi theo hướng từ đường Võ Nguyên Giáp về hướng đường Lê Lai l m mép đường chuẩn.

Đầu vết c y trên l n đường gi nh cho xe môtô sát h nh lang an to n đường bộ của đường Lê Lợi của chiều đi bên phải theo hướng từ đường Võ Nguyên Giáp về hướng đường Lê Lai, đầu vết c y cách mép đường chuẩn l 2,2 mét cuối vết c y trùng với xe môtô biển số 93M1 – 322.89, khoảng cách từ đầu vết c y đến đuôi vết c y l 11,9 mét.

Kích thước máu 01x0,6 mét nằm trên l n đường gi nh cho xe môtô sát hành lang an to n đường bộ của đường Lê Lợi, cách mép đường chuẩn l 2,6 mét, cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 93M1 – 322.89 là 1,2 mét.

Xe môtô biển số 93M1 – 322.89 ngã qua bên trái đầu xe quay về hướng đường Võ Nguyên Giáp, đuôi xe quay về hướng đường Lê Lai, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn l 1,6 mét, cách mốc hiện trường số 1 l 09 mét. Tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn l 01 mét v cách tâm trục bánh sau xe môtô biển số 67B2 – 519.32 là 86,5 mét.

Xe môtô biển số 67B2 – 519.32 ngã qua phải, đầu xe hướng về đường Lê Lai, đuôi xe hướng về đường Võ Nguyên Giáp, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn l 2,6 mét, cách cột mốc hiện trường số 2 l 22,8 mét, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn l 19,5 mét.

Tại Biên bản khám phương tiện ng y 24/3/2024 của Đội Cảnh sát Giao thông – Trật tự Công an th nh phố Thủ Dầu Một, xác định dấu vết trên xe môtô biển số 67B2 – 519.32 như sau:

Tay thắng bên phải có dấu va chạm l m khuyết v trầy xước kim loại từ trước về sau, từ trái sang phải, kích thước 01 x 05cm, cách mặt đất 97cm. Cao su cố định đèn chiếu sáng phía trước góc bên phải có dấu va chạm l m bể v trầy xước cao su theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, kích thước 03 x 15cm, cách mặt đất 102cm.

Tay cầm bên phải có dấu trầy xước kim loại do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước, 01 x 01cm, cách mặt đất 99cm. Phuộc trước bên phải có dấu trầy xước kim loại do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước 03 x 15cm, cách mặt đất 32cm. Bu lông cố định phuộc trước bên phải có dấu trầy xước kim loại do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước 03 x 03cm, cách mặt đất 22cm.

Tay thắng bên phải có dấu m i mòn kim loại do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước 01 x 01cm, cách mặt đất 95cm. Hông bên phải đoạn phía trước bệ bước có dấu trầy xước cao su do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước 10 x 30cm, cách mặt đất 30cm. Ốp ống xả bên phải có dấu m i mòn cao su do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước 05 x 20cm, cách mặt đất 40cm. Cản sau hông bên phải có dấu m i mòn kim loại do ngã theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước 01 x 03cm, cách mặt đất 80cm.

An to n kỹ thuật phương tiện: Hệ thống đèn, còi, gương còn hoạt động. Hệ thống máy không kiểm tra bên trong.

Tại Biên bản khám phương tiện ng y 24/3/2024 của Đội Cảnh sát Giao thông – Trật tự Công an th nh phố Thủ Dầu Một, xác định dấu vết trên xe môtô biển số 93M1 – 322.89 như sau:

Tay thắng bên trái có dấu vết va chạm l m trầy xước kim loại, theo chiều từ trái sang phải, từ sau về trước, kích thước 01 x 01cm, cách mặt đất 93cm v còn để lại trên bề mặt n y một vết sơn m u đỏ do xe môtô biển số 67B2 – 519.32 va chạm v o. Tay cầm bên trái có dấu va chạm trầy xước kim loại từ trái sang phải, từ sau về trước, kích thước 02 x 02cm, cách mặt đất 99cm.

Mũi vè trước có dấu trầy xước cao su v lệch sang phải do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau, kích thước 0,5 x 15cm, cách mặt đất 55cm. Yếm chắn gió bên trái có dấu trầy xước cao su do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau kích thước 03 x 12cm, cách mặt đất 60cm.

Hông bên trái đoạn phía dưới bệ bước có dấu trầy xước cao su do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau kích thước 10 x 30cm, cách mặt đất 30 cm. Gác chân sau bên trái có dấu m i mòn kim loại do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau kích thước 03 x 10cm, cách mặt đất 45cm. Lốc máy bên trái có dấu trầy xước kim loại do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau, kích thước 07 x 15cm, cách mặt đất 33cm. Cao su bên ngo i l c gió bên trái có dấu trầy xước do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau kích thước 10 x 25cm, cách mặt đất 50cm. Cản sau hông bên trái có dấu m i mòn kim loại do ngã theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau, kích thước 01 x 02cm, cách mặt đất 82cm.

An to n kỹ thuật phương tiện: Hệ thống đèn, còi, gương còn hoạt động. Hệ thống máy không kiểm tra bên trong.

Tại Kết luận giám định số 1965/KL-KTHS (CH) ng y 25/4/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa các phương tiện l : Dấu vết trượt xước, bám dính chất m u đen (dạng cao su) ở mặt trước, trên tay phanh bên phải xe môtô biển số 67B2 – 519.32, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước cao su ở mặt sau, dưới đầu ngo i tay lái bên trái xe môtô biển số 93M1 – 322.89, có chiều từ sau về trước.

2. Cơ chế hình th nh dấu vết giữa 02 phương tiện l : Phần phía trước bên phải xe môtô biển số 67B2 – 519.32 va chạm v o phần phía trước bên trái xe môtô biển số 93M1 – 322.89 làm hai xe môtô đổ, ngã va chạm với mặt đường tạo ra dấu vết trên hai phương tiện.

3. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường nằm ở khu vực phía trước đầu vết c y trên sơ đồ hiện trường v thuộc l n đường xe mô tô trên phần đường bên phải của đường Lê Lợi hướng đi từ đường Võ Nguyên Giáp đến đường Lê Lai.

4. Không có căn cứ để xác định tốc độ của hai xe môtô tại thời điểm trước v sau khi xảy ra va chạm.

Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 147/KLTTHS-TTPYĐN ng y 29/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận nguyên nhân chết của chị Đinh Thị Ng c T là do chấn thương s não nặng gây: Nứt s thái dương đỉnh trái. Tụ dịch xoang chủm trái, xoang bướm hai bên. Tụ máu dưới m ng cứng bán cầu phải, chèn ép não thất bên phải, lệch đường giữa qua trái, xuất huyết dưới nhện liềm não, lều tiểu não hai bên, xuất huyết nhân bèo hai bên. Đinh Thị Ng c T bị chấn thương s não nặng dẫn đến tử vong (chết) l do hậu quả của tai nạn giao thông.

Tại phiếu đo nồng độ cồn ng y 24/3/2024 của Đội Cảnh sát Giao thông – Trật tự Công an th nh phố Thủ Dầu Một xác định nồng cồn trong hơi thở của Lê Văn U là 0,607 miligam/1 lít khí thở.

Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của chị Đinh Thị Ng c T yêu cầu Lê Văn U bồi thường viện phí, chi phí mai táng v sửa xe môtô biển số 93M1- 322.89, tổng cộng 120.000.000 đồng. U đã bồi thường được 40.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định xe môtô biển số 93M1- 322.89 là t i sản của anh Đinh Văn T; ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã trả lại xe v 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 791184089641 của chị Đinh Thị Ng c T cho anh T. Đối với xe môtô hiệu Honda Vision, biển số 67B2 – 519.32 là tài sản của Lê Văn U được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Tại Cáo trạng số 245/CT-VKS-HS ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Lê Văn U để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn U từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; về trách nhiệm dân sự, đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng; đề nghị tiếp tục tạm giữ chiếc xe xe môtô hiệu Honda Vision, biển số 67B2 – 519.32 v giấy đăng ký xe của Lê Văn U để bảo đảm nghĩa vụ thi h nh án.

Tại phần tranh luận, bị cáo Lê Văn U không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt v mức hình phạt. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Lê Văn U nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc l m của mình l vi phạm pháp luật, do bị cáo chưa có khả năng để bồi thường tiếp cho gia đình bị hại, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Việc Điều tra viên không chuyển hồ sơ, kết luận điều tra để đề nghị truy tố bị can theo quy định l vi phạm thời hạn tố tụng.

Về h nh vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn U đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định pháp y tử thi, kết luận giám định phương tiện, kết quả xét nghiệm định lượng cồn trong hơi thở v các chứng cứ, t i liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ng y 24/3/2024, tại đường Lê Lợi, đoạn qua Khu phố 4, phường Hòa Phú, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Lê Văn U đã có h nh vi điều khiển xe môtô hiệu Honda Vision, dung tích 108cm3, biển số 67B2 – 519.32 chở b Lưu Thị T vượt xe nhưng không có báo hiệu bằng đèn hoặc còi, thiếu chú ý quan sát đã để tay phanh bên phải xe môtô biển số 67B2 - 519.32 do U điều khiển va chạm v o đầu ngo i tay lái bên trái xe môtô hiệu Honda Vision, dung tích 108cm3, biển số 93M1-322.89 do chị Đinh Thị Ng c T điều khiển đi cùng chiều, hậu quả l m chị T ngã xuống đường bị thương nặng v chết tại bệnh viện, 02 xe bị hư hỏng; tại thời điểm va chạm, Lê Văn U không có giấy phép lái xe môtô hạng A1 và trong hơi thở có nồng độ cồn 0,607 miligam/01 lít khí thở. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một v kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Văn U để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 l có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo Lê Văn U đã vi phạm khoản 8, 9 và 23 Điều 8, khoản 1 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ; nguyên nhân dẫn đến va chạm giao thông giữa xe của bị hại và xe của bị cáo là do lỗi của bị cáo. Về nhận thức, bị cáo biết việc điều khiển xe môtô có dung tích 108cm3 khi không có giấy phép lái xe v lái xe khi đã uống rượu, bia l vi phạm pháp luật, nhưng vì ý thức chấp h nh pháp luật kém nên bị cáo vẫn thực hiện; h nh vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Như vậy, với h nh vi phạm tội m bị cáo đã thực hiện, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở th nh công dân tốt, cũng như để răn đe v phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại. Đây l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 v khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội m bị cáo đã thực hiện l rất nguy hiểm cho xã hội, đã l m cho bị hại chết, nên đề nghị của Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo l tương xứng, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 80.000.000 đồng, bị cáo đã đồng ý bồi thường theo yêu cầu, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do bị cáo chưa bồi thường xong, nên cần tiếp tục tạm giữ chiếc xe xe môtô hiệu Honda Vision, biển số 67B2 – 519.32 và giấy đăng ký xe của bị cáo để đảm bảo thi h nh án. Do b Lưu Thị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, nên không đặt ra xem xét.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 260, 331 v Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn U 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án.

3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 1 Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Văn U kể từ ng y tuyên án sơ thẩm (ng y 10/01/2025) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp h nh hình phạt tù.

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586 v Điều 591 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ng y 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ng y 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngo i hợp đồng;

Buộc bị cáo Lê Văn U bồi thường cho ông Đinh Văn T v b Đinh Thị N số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

Kể từ ng y án có hiệu lực thi h nh v người được thi h nh án có đơn yêu cầu thi h nh án, nếu người phải thi h nh án chưa bồi thường hoặc bồi thường không đầy đủ thì h ng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 v Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền v thời gian chậm thi hành án.

5. Tiếp tục tạm giữ chiếc xe môtô đã qua sử dụng hiệu Honda Vision, m u đỏ-nâu, biển số 67B2-519.32, số máy JF86E5129466, số khung 5833LZ422603 (không kiểm tra chỉ tiết, tình trạng hoạt động) v giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 134213 để bảo đảm thi h nh án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 028.25 ngày 07/11/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một).

6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Văn U phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm v 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y, kể từ ng y tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi h nh án dân sự.

Cỡ chữ