- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Q tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 09-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Ông Nguyễn Khắc Thiện
- Thư ký phiên tòa: ông Quàng Văn Long – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Công chức hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần: ông Thiều Tất Lơ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09/11/2025 tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Mường Thanh, Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân khu vực 4- Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 08/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 28/10/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Q; Sinh ngày 07/9/1998 tại phường ML, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: bản NS1, xã HB, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Đ ( sinh năm 1981) và bà Lò Thị X (Sinh năm 1981); Có vợ là Lò Thị M (sinh năm 1999) và có 02 con; tiền án: 01 (Bị xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 26/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La, ngày 07/02/2024 chấp hành xong hình phạt của bản án, đến ngày phạm tội trong vụ án này chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/5/2025, tạm giam từ ngày 23/5/2025 cho đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Lý A Ch, sinh năm 1977. Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị P, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Bản Hốc, phường ML, tỉnh Điện Biên. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn Q là người nghiện chất ma túy từ năm 2021. Khoảng 16 giờ ngày 13/5/2025 Lò Văn Q điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 27X1- 037.67 đi từ nhà ở bản NS1, xã HB, tỉnh Lai Châu về thăm bố mẹ đẻ ở bản H, phường ML, tỉnh Điện Biên. Khi đi đến bản Nậm X, xã MT, tỉnh Lai Châu thì Q gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ không rõ lai lịch đang đứng bên đường, qua trao đổi Q mua được từ người này 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng với số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Q dùng tay cấu một ít Heroine đưa lại cho người đán ông đó, số Heroine còn lại Q gói bằng mảnh giấy màu bạc của vỏ bao thuốc lá rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc và điều khiển xe đi tiếp. Đi được một đoạn thì Q dừng xe đi vào bụi cây ven đường, dùng tay cấu một ít Heroien ra sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại Q dùng tay chia thành 06 phần rồi đóng gói theo quy cách lần lượt như sau: 03 phần gói thành 03 gói nhỏ, mỗi gói bọc bằng nilon màu xanh rồi bọc chung bằng 01 mảnh giấy bạc của vỏ bao thuốc lá thành 01 gói lớn; 03 phần gói thành 03 gói nhỏ, mỗi gói bọc nilon màu trắng và cũng bọc chung trong 01 mảnh giấy bạc của vỏ bao thuốc lá thành 01 gói lớn. Q cất 02 gói Heroin bọc bằng mảnh giấy bạc vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc, đi về nhà bố mẹ ở Bản H, phường ML, tỉnh Điện Biên. Khoảng 18 giờ ngày 14/5/2025 Q mang theo 02 gói ma túy cất trong túy quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 27X1- 037.67 đi tìm nơi sử dụng. Hồi 18 giờ 35 phút cùng ngày, khi Q đi đến khu vực bản Na Ka, phường ML, tỉnh Điện Biên thì bị Tổ công tác Công an xã LN, thị xã ML (nay là Công an phường ML, tỉnh Điện Biên) phối hợp với đội Cảnh sát giao thông đường thủy, Phòng PC08 Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá có đựng 02 gói bọc bằng giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá, Lò Văn Q khai nhận là Heroine. Đồng thời thu giữ của Lò Văn Q chiếc xe máy cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy kèm theo mang tên Hờ A Dơ.
Tại Kết luận giám định số 439/KL-KTHS ngày 20/05/2025, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn Q có khối lượng 0,25 gam các cục bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định còn lại 0,14 gam, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV4 ngày 07/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố Lò Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,14 gam Heroine còn lại sau giám định, 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng, 03 (ba) mảnh nilon màu xanh, 03 mảnh nilon màu trắng; Trả lại cho bà Lò Thị P chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX,số máy JC43E500691, số khung RLHJC4327AY000516, biển kiểm soát 27X1- 037.67 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy, chìa khóa kèm theo. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Thị P trình bày ý kiến: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 27X1- 037.67 là tài sản hợp pháp của bà Phớ, do bà mua lại từ cửa hàng bán xe máy cũ. Bà P không biết việc Lò Văn Q lấy xe máy đi mua ma túy, bà Phớ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe. Bà Lò Thị P không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và các Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nhất trí với Cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng, việc miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ và nhân thân, hoàn cảnh phạm tội để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không có ý kiến bổ sung vào Bản Luận cứ bào chữa, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Vào hồi 18 giờ 35 phút ngày 14/5/2025 tại bản NK, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên (nay là bản NK, phường ML, tỉnh Điện Biên), tổ công tác Công an xã LN, thị xã ML (nay là Công an phường ML, tỉnh Điện Biên) phối hợp với đội Cảnh sát giao thông đường thủy, phòng PC08 Công an tỉnh Điện Biên đã kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Lò Văn Q đang thực hiện hành vi cất giấu trái phép trong túi quần bên phải đang mặc 0,25 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, không có chứng cứ chứng minh bị cáo không phạm tội. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Lò Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với mức hình phạt tù được quy định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo quy định tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 thì khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Bị cáo Lò Văn Q phạm tội ngày 14/5/2025, tại thời điểm xét xử nếu áp dụng quy định của luật mới là không có lợi cho người phạm tội. Do đó cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật hình sự, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử và quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những tiếp tay cho tội phạm về ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các loại tội phạm hình sự khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo Lò Văn Q có nhân thân xấu, mặc dù chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng đã bị Tòa án xét xử 01 lần về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Về hình phạt đối với bị cáo: Từ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời hạn nhất định để bị cáo cải tạo bản thân đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Nhưng xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng 0,25 gam Heroine thu giữ của Lò Văn Q sau khi gửi giám định còn lại 0,14 gam là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng, 03 (ba) mảnh nilon màu xanh và 03 mảnh nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa.
Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại chiếc xe máy HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 27X1- 037.67 cho bà Lò Thị P.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo đã được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận (Bút lục số 75), đồng thời là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và bị cáo, người bào chữa về việc miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc La Hủ mà bị cáo khai là người bán Heroine cho bị cáo, do cơ quan điều tra không xác minh được lý lịch nên không đủ cơ sở để xử lý.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 15/5/2025.
3. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 0,14 gam Heroine còn lại sau giám định và 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng, 03 (ba) mảnh nilon màu xanh và 03 mảnh nilon màu trắng.
- Trả lại cho bà Lò Thị P chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX, số máy JC43E500691, số khung RLHJC4327AY000516, biển kiểm soát 27X1- 037.67 và giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy cùng chìa khóa kèm theo.
(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2025).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án, bà Lò Thị P có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2025).
| Nơi nhận: - Phòng GĐ KT, TT & THA TAND Tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 4 – Điện Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Phân trại tạm giam Mường Thanh; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - PC 10 (THAHS) CA tỉnh Điện Biên; - Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Người bào chữa; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đao Thị Bích Thảo |