vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Hùng S 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Hùng S với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2025) theo Quyết định của Hội đồng xét xử. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hùng S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày 29-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Dương và ông Nguyễn Văn Tạo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Cao Cường - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 15/7/2025, đối với bị cáo:

Phạm Hùng S, sinh ngày 21/02/1978; tại: xã H, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn D, xã H, tỉnh Quảng Trị (trước đây là xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc L (đã chết) và bà Phạm Thị Q; vợ sau Nguyễn Thuỳ T (đã ly hôn) và có 04 con; tiền án, tiền sự: không.

* Về nhân thân:

+ Ngày 12/12/2006, bị Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

+ Ngày 29/8/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2011/HSST;

+ Ngày 25/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 49/2011/HSST ngày 29/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, buộc Phạm Hùng S phải chấp hành hình phạt chung 31 tháng tù, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2013/HSST;

+ Ngày 04/5/2022, bị Chủ tịch UBND xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 19/01/2025 chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Bùi Đức D, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn P, xã H, tỉnh Quảng Trị (trước đây là xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 10/01/2025, Phạm Hùng S thuê anh Bùi Đức D chở đi huyện Bố Trạch với mục đích nhờ người đổi bằng lái xe và không nói rõ cho anh D biết là đi mua ma túy. Đến khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, anh D điều khiển xe ô tô màu trắng, BKS 75A-087.73 đến đón S ở thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn D, xã H, tỉnh Quảng Trị), rồi chở vào hướng huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cũ. Khi đến vòng xuyến đường tránh thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình cũ giao với Quốc Lộ 1A thuộc địa phận xã Lý Nam, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Nam Trạch, tỉnh Quảng Trị), S bảo với anh D dừng xe và lấy điện thoại gọi từ số thuê bao 0816.387.655 của S đến số thuê bao 0582.622.226 của người đàn ông tên Phúc nói “Anh tới nơi rồi”, Phúc nói “Ngồi đó đợi tý”, khoảng 20 phút sau Phúc đến, S ra khỏi xe và nói với anh D “Chờ anh tý, anh đi có việc”, rồi đi bộ ra phía sau đuôi xe, cách xe khoảng 50 mét gặp Phúc. S đưa cho Phúc 800.000 đồng tiền mặt, Phúc đưa cho S 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có chứa ma túy loại Heroine. Mua được ma túy, S cầm túi nilon chứa ma túy ở tay phải, quay lại xe ngồi ở hàng ghế phía sau ghế lái rồi bảo anh D lái xe về lại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cũ theo đường Quốc Lộ 1A. Đi được khoảng 200 mét, S bảo anh D dừng xe để S xuống mua 01 chai nước lọc ở quán tạp hóa bên đường, sau đó quay lại xe và trả 400.000 đồng tiền thuê taxi cho anh D. Anh D tiếp tục điều khiển xe chở S về đến địa phận xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị), S lấy 01 bơm kim tiêm đã chuẩn bị trước đó được S cất giấu ở trong người rồi trích một ít ma túy loại Heroine vừa mua được ra pha với nước suối để sử dụng, số ma túy còn lại S để ở vị trí cũ. Khi xe ô tô BKS 75A-087.73 về đến thôn Hưng Lộc, xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị) thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang trên xe ô tô biển kiểm soát: 75A - 087.73, Phạm Hùng S có hành vi sử dụng ma túy. Tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi đựng đồ phía sau ghế lái, trước mặt Phạm Hùng S có 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 02 khối chất bột và một số mảnh vụn màu trắng. Phạm Hùng S khai nhận túi nilon chứa 02 khối chất bột và một số mảnh vụn màu trắng nói trên là ma túy, dạng Heroine, S mua về để nhằm mục đích sử dụng.

* Về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:

Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A15, màu trắng, số IMEI 865613055983237, số IMEI2 865613055983229, điện thoại gắn sim số 0816.387.655, máy đã qua sử dụng; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO, loại GENTRA, màu trắng, BKS: 75A-087.73, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong; 01 (một) bơm kim tiêm có chiều dài 12cm, có dòng chữ DISCARD AFTER USE; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 015288 của biển đăng ký 75A-087.73; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 2072060 của biển đăng ký 75A-087.73; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “102/KL-KTHS”, bên trong chứa 0,886 gam (không phẩy tám trăm tám mươi sáu gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A; Toàn bộ vỏ bao gói. Được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.

Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp là anh Bùi Đức D 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO, loại GENTRA, màu trắng, BKS: 75A-087.73, xe đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 015288 của biển đăng ký 75A-087.73; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 2072060 của biển đăng ký 75A-087.73. Số vật chứng còn lại được chuyển xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 102/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Mẫu kí hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 1,019 gam (một phẩy không trăm mười chín gam).

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSQT ngày 16 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị) đã truy tố bị cáo Phạm Hùng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Hùng S từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù;

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bơm kim tiêm có chiều dài 12 cm, có dòng chữ DISCARD AFTER USE, củ đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “102/KL-KTHS”, bên trong chứa 0,886 gam (không phẩy tám trăm tám mươi sáu gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A; Toàn bộ vỏ bao gói. Được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A15, màu trắng, số IMEI: 865613055983237, số IMEI2: 865613055983229, điện thoại gắn sim số 0816.387.655, máy đã qua sử dụng;

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Hùng S phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị đã truy tố, kết tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hùng S đã thừa nhận và thống nhất khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà mình đã thực hiện. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 10/01/2025, bị cáo thuê xe của anh Bùi Đức D và nói với anh D chở vào huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình để nhờ người đổi bằng lái xe nhưng mục đích là đi mua ma túy của một người đàn ông tên Phúc mà S đã liên lạc, giao hẹn trước đó. Sau khi mua được ma túy từ Phúc, bị cáo cầm số ma túy quay lại xe ngồi ở hàng ghế phía sau ghế lái rồi bảo anh D lái xe về. Khi quay về, bị cáo mua 01 chai nước, lấy 01 bơm kim tiêm đã chuẩn bị, cất giấu trước đó ở trong người, rồi trích một ít ma túy loại Heroine để sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu ở vị trí củ. Khi xe ô tô BKS 75A-087.73 về đến thôn Hưng Lộc, xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn Hưng Lộc, xã Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị) thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy, lời khai nhận hành vi phạm tội trên của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Chất ma túy mà bị cáo tàng trữ là Heroine, có khối lượng 1,019g. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận, bị cáo Phạm Hùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và gây bức xúc, bất bình trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại của ma túy mang lại nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu, mục đích bản thân nên đã coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần quyết định một hình phạt tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra. Nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân thì bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử, đã bị xử lý vi phạm hành chính nhiều lần.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Phạm Hùng S trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho bị cáo.

Xét quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, mức hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo là chưa nghiêm, chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tại Trại giam, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo tiến bộ, sớm trở lại là công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với anh Bùi Đức D là người được bị cáo thuê xe chở đi huyện Bố Trạch nhưng anh D không biết được mục đích của S là đi mua ma tuý, không biết được S tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc anh D lái xe để S lợi dụng thực hiện hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý đã vi phạm hành chính nên đã bị xử lý hành chính theo quy định. Đối với khai nhận của bị cáo về việc mua ma túy từ người đàn ông tên Phúc, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng Phúc và người thân không có mặt tại nơi cư trú, không rõ đi đâu, làm gì. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ vật chứng liên quan để điều tra và đã tiến hành xử lý trả lại 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO, loại GENTRA, màu trắng, BKS: 75A-087.73; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 015288 của biển đăng ký 75A-087.73; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 2072060 của biển đăng ký 75A-087.73 cho anh Bùi Đức D theo quy định của pháp luật. Đến tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với: 01 (một) bơm kim tiêm có chiều dài 12 cm, có dòng chữ DISCARD AFTER USE, củ đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “102/KL-KTHS”, bên trong chứa 0,886 gam (không phẩy tám trăm tám mươi sáu gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A; Toàn bộ vỏ bao gói. Được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt. Xác định, đây là vật chứng thuộc trường hợp vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị, không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A15, màu trắng, điện thoại gắn sim số 0816.387.655, máy đã qua sử dụng. Xác định, đây là phương tiện sử dụng để liên lạc, mua bán trái phép chất ma tuý, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Hùng S phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Hùng S 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Hùng S với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2025) theo Quyết định của Hội đồng xét xử.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bơm kim tiêm có chiều dài 12 cm, có dòng chữ DISCARD AFTER USE, củ đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “102/KL-KTHS”, bên trong chứa 0,886 gam (không phẩy tám trăm tám mươi sáu gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A; Toàn bộ vỏ bao gói. Được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A15, màu trắng, điện thoại gắn sim số 0816.387.655, máy đã qua sử dụng.

Vật chứng có tình trạng, đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 25/6/2025.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Hùng S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ