vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Buôn bán hàng giả”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/7/2025. Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho UBND xã N, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Tùng - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả (điều 192 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ơ
Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 28/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Mạnh, bà Nguyễn Thị Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 12-Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Quế - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 12, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 17/7/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T - sinh ngày 15/07/1991; tại huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng); Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T1, gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1993 và có 02 con, con lớn sinh năm 2018; con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T4; Địa chỉ trụ sở chính: Số A L, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường X, thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quốc C1 - Chức danh, Tổng giám đốc, Công ty Cổ phần T4.

Người đại điện theo ủy quyền của ông C1: Công ty Cổ phần T4; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là Thôn Đình D, xã N, tỉnh Hưng Yên).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu H - Chức danh Giám đốc; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là Thôn Đình D, xã N, tỉnh Hưng Yên).

Người đại điện theo ủy quyền của bà H:

- Ông Ngô Văn T2, Nhân viên kinh doanh, Công ty Cổ phần T4; Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh), có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Phạm Đức H1, Nhân viên kinh doanh, Công ty Cổ phần T4; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đ, xã N, tỉnh Hưng Yên), có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác: Anh Nguyễn Văn D1, chị Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị H2 là những người làm chứng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu tháng 01/2025, Nguyễn Thanh T đến xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) tìm mua hàng kim khí để bán. Tại đây, T gặp người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch) giới thiệu có bán các loại keo nhãn hiệu Apollo Silicone là hàng giả, không có hóa đơn, chứng từ; giá bán bằng 1/3 giá hàng thật nhưng chất lượng tương đương khoảng 70% - 80% so với hàng thật. T đặt mua 2.400 chai keo Apollo Silicone giả các loại gồm: 1.350 chai keo A (300ml) màu trắng sữa; 900 chai keo Apollo Silicone A500 (300ml) màu đen; 150 chai keo Apollo Silicone A200 (300ml) màu trắng trong với giá 20.000 đồng/chai để bán kiếm lời. Khoảng 02 ngày sau T nhận được cuộc gọi qua ứng dụng Zalo của người đàn ông khác (không rõ nhân thân, lý lịch) hẹn giao 2.400 chai keo Apollo Silicone tại chân cầu T, huyện B, tỉnh Hải Dương (nay là cầu T, thành phố Hải Phòng), T thanh toán cho người đàn ông vận chuyển 48.000.000 đồng tiền mặt và thuê xe ô tô vận chuyển để tại kho chứa hàng do T mượn của ông Hồ Đình B, sinh năm 1961, địa chỉ thôn Q, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Q, xã T, thành phố Hải Phòng).

Ngày 13/01/2025, chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983, đều trú tại xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, thành phố Hải Phòng) gặp T hỏi mua Keo Apollo Silicone để sử dụng trong đó chị H2 đặt mua 150 chai Keo Apollo Silicone A200 màu trắng trong; chị M đặt mua 50 chai Keo Apollo Silicone A500 màu đen; đều với giá 22.000 đồng/01 chai và hẹn đầu giờ chiều cùng ngày thì giao hàng tại nhà chị M, chị H2, thanh toán tiền sau khi nhận hàng. Khoảng 13 giờ ngày 13/01/2025, T nhờ anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng) vận chuyển K đi giao cho chị M, chị H2. Khi anh D1 đang lấy Keo từ kho xếp cạnh xe ô tô biển số 34D-028.63 để chuẩn bị đi giao hàng cho chị M, chị H2 thì bị Đội quản lý thị trường số E - Cục Quản lý thị trường tỉnh H (nay là Cục quản lý thị trường thành phố H) phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh H (nay là Công an thành phố H) kiểm tra phát hiện, thu giữ 2.400 chai keo Apollo Silicone các loại gồm: 1.350 chai keo Apollo Silicone loại A500 (300ml), màu trắng sữa; 150 chai keo Apollo Silicone loại loại A200 (300ml), màu trắng trong; 900 chai keo Apollo Silicone loại A500 (300ml), màu đen; trên nhãn từng chai keo có in trực tiếp trên vỏ chai nội dung “Đóng chai bởi Công ty Cổ phần T4. Văn phòng giao dịch: 18-20 Lê Quý Đ, P.Võ Thị S, Q.3, TP HCM, Việt Nam. Đóng chai tại nhà máy A1, địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam" (nay là thôn Đ, xã N, tỉnh Hưng Yên).

Tại Kết luận giám định số 2273/KL-KTHS ngày 20/3/2025 của V Bộ C3 kết luận: Các lớp in trên nhãn vỏ chai của các chai keo thu giữ của Nguyễn Thanh T không phải do cùng bản in tương ứng in ra so với mẫu của Công ty cổ phần T4; thành phần hóa học không cùng loại với thành phần hóa học của mẫu keo do Công ty cổ phần T4 cung cấp. Theo quy định tại điểm đ khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 (sửa đổi bổ sung một số điều theo Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/014/2022) của Chính phủ thì các loại keo Apollo trên là hàng giả.

Tại Kết luận định giá tài sản số 534/KL-HĐĐG ngày 14/3/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Hải Dương, xác định: Tổng giá trị của 2.400 chai keo Apollo Silicone các loại là 102.949.275 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 69/CT-VKSHD-P1 ngày 27 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng) truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Buôn bán hàng giả” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng) là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 thực hành quyền công tố trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T, phạm tội “Buôn bán hàng giả”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 192, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo 20.000.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 09 chai keo Apollo Silicone các loại hoàn lại sau giám định; 2.391 chai keo Apollo Silicone các loại là hàng giả.

- Các vấn đề khác: Không.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H (nay là Công an thành phố H), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng), Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/01/2025, Nguyễn Thanh T đang cất giấu tại kho hàng ở thôn Q, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Q, xã T, thành phố Hải Phòng) 2.400 chai keo Apollo Silicone là hàng giả, có giá trị tương đương với hàng thật là 102.949.275 đồng, gồm: 1.350 chai keo Apollo Silicone loại A500 (300ml), màu trắng sữa; 150 chai keo Apollo Silicone loại loại A200 (300ml), màu trắng trong; 900 chai keo Apollo Silicone loại A500 (300ml) màu đen, mục đích để bán thì bị phát hiện, thu giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, quản lý hàng hóa, quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý thị trường, xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng, quyền được bảo hộ của các doanh nghiệp, các nhà sản xuất. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi buôn bán hàng giả là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn hưởng lợi từ việc buôn bán hàng giả nên bị cáo đã cố ý thực hiện buôn bán 2.400 chai keo Apollo Silicone là hàng giả, có giá trị tương đương với hàng thật là 102.949.275 đồng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng giả” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương (Nay là Viện kiểm sát nhân dân thanh phố Hải Phòng) truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có ông nội là Nguyễn Văn H3 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bà nội là Nguyễn Thị N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, ông ngoại là Nguyễn Thiện Đ1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ các quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; trước khi có hành vi vi phạm pháp luật cũng như trong thời gian cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo chấp hành tốt đường lối của đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương nơi cư trú, có khả năng tự cải tạo, Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền cũng đảm bảo giáo dục bị cáo biết chấp hành pháp luật và đảm bảo công tác phòng ngừa chung phù hợp quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 192 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần T4; Công ty Cổ phần T4 không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 09 chai keo Apollo Silicone các loại hoàn lại sau giám định; 2.391 chai keo Apollo Silicone các loại cho tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Đối với xe ô tô BKS 34D- 028.63 là tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T3, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe ô tô cho anh T3 để quản lý, sử dụng nên không xét giải quyết.

. Đối với người đàn ông bán keo giả và người vận chuyển keo giao cho bị cáo Nguyễn Thanh T: Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý.

Ông Hồ Đình B cho bị cáo Nguyễn Thanh T mượn kho chứa hàng; anh Nguyễn Văn D1 làm thuê cho bị cáo T không biết T phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với chị Nguyễn Thị M và chị Nguyễn Thị H2 đặt mua Keo Apollo Silicone của Nguyễn Thanh T để sử dụng hoàn thiện nhà đang xây dựng nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 192, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Buôn bán hàng giả”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/7/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho UBND xã N, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thanh T từ ngày 28/7/2025.

2- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 20.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

3- Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

4- Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy.

- 54 (năm mươi tư) thùng bìa cát tông được niêm phong, bên trong chứa tổng cộng 1347 (một nghìn ba trăm bốn mươi bảy) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng sữa, thân vỏ trai có in chữ “APOLLOR SILICONE SEALANT SILICONE OXIME SEALANT - A500,300 ml; nguyên liệu nhập khẩu 100%; đóng chai bởi: Công ty cổ phần T4 silicone, VP giao dịch: 18-20 L, p. Võ Thị S, Q3, TP H, Việt Nam; Tel: (84-028) 6292 5261 -63 WWW Apolloosilicone; đóng chai tại nhà máy A1: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

- 36 (ba mươi sáu) thùng bìa cát tông được niêm phong, bên trong chứa tổng cộng 897 (chín trăm chín mươi bảy) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong chứa chất màu đen, thân vỏ chai có in chữ trong chứa chất màu đen, thân vỏ chai có in chữ “APOLLOR SILICONE SEALANT SILICONE OXIME SEALANT - A500, 300 mL; Nguyên liệu nhập khẩu 100% đóng chai bởi: CÔNG TY CỔ PHẦN T4, VPGiao dịch: 18 - 20 Lê Quý Đ, P . V, Q.3, 1P.HCM, Việt Nam; Tel:(84-028) 6292 5261 - 63; www.apollosilicone.vn, Đóng chai tại nhà máy A1 Hưng Yên Thôn Đ, Xã Đ, Huyện V, Tỉnh Hưng Yên, Việt Nam”;

- 06 (sáu) thùng bia các tông được niêm phong, bên trong chứa tổng cộng147 (một trăm bốn mươi bảy) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng trong, thân vỏ chai có in chữ “APOLLOR SILICONE SEALANT ACID SILICONE SEALANT - A200, 300 mL; Đóng chai bởi: CÔNG TY CỔ PHẦN T4, VP Giao dịch: 18 - 20 Lê Quý Đ, P . V, Q.3, TP ., Việt Nam; T:(84-028) 6292 5261

- 63; www.apollosilicone.vn; Đóng chai tại nhà máy A1: Thôn Đ, Xã Đ, Huyện V, Tỉnh Hưng Yên, Việt Nam”.

- 01 (một) thùng bìa cát tông được niêm phong, bên trong chứa các mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2273/KL-KTHS của V Bộ C3 bên trong gồm:

+ 03 (ba) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng sữa, thân vỏ chai có in chữ “APOLLO SILICONE SEALANT SILICONE OXIME SEALANT - A500, 300 mL; Nguyên liệu nhập khẩu 100%; đóng chai bởi: CÔNG TY CỔ PHẦN T4, VP Giao dịch: 18 - 20 Lê Quý Đ, P . V, Q.3, TP ., Việt Nam; T:(84-028) 6292 5261 - 63; www.apollosilicone.vn; Đóng chai tại nhà máy A1: Thôn Đ, Xã Đ, Huyện V, Tỉnh Hưng Yên, Việt Nam".

+ 03 (ba) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong chứa chất màu đen, thân vỏ chai có in chữ “APOLLO SILICONE SEALANT SILICONE OXIME SEALANT - A500, 300 mL; Nguyên liệu nhập khẩu 100%; đóng chai bởi: CÔNG TY CỔ PHẦN T4, VPGiao dịch: 18 - 20 Lê Quý Đ, P . V, Q.3, TP ., Việt Nam; Tel:(84-028) 6292 5261 ~ 63; www.apollosilicone.vn; Đóng chai tại nhà máy A1: Thôn Đ, Xã Đ, Huyện V, Tỉnh Hưng Yên, Việt Nam”;

+ 03 (ba) chai nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng trong, thần và chai có in chữ “APOLLOR SILICONE SEALANT ACID SILICONE SEALANT - A200, 300 mL; Đóng chai bởi: CÔNG TY CÓ PHÂN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ APOLLO SILICONE, VP Giao dịch: 18 - 20 Lê Quý Đ, PVô Thị S1, Q.3, TP ., Việt Nam; T:(84-028) 6292 5261 www.apollosilicone.vn; Đóng chai tại nhà máy A1: Thôn Đ, Xã Đ, Huyện V, Tỉnh Hưng Yên, Việt Nam”;

(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng) và có đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H (nay là Công an thành phố H) và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ