- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị D và Nguyễn Tuấn A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-7-2025 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Tân.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2025 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị D; sinh ngày: 05/6/1989; CCCD: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Hẻm 104, Tổ N, Khu phố B, phường T, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A; sinh ngày: 01/01/1989; CCCD: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D và anh Nguyễn Tuấn A biết quen chung sống với nhau vào đầu năm 2012, đến tháng 10/2012 anh Nguyễn Tuấn A và chị Trương Thị D sinh được con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm My, vào năm 2013 anh chị đến Uỷ ban nhân dân thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nay Uỷ ban nhân dân xã Tân Phước Hưng, thành phố Cần Thơ) để đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 47/2013, quyển số I/2013, chứng nhận ngày 02/08/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không phù hợp từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn chị D và anh Tuấn A đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên đều biết và có hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh chị nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp tục xảy ra. Nay chị Dnhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Dyêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.
Về con chung: Chị Trương Thị D tự khai trong thời gian chung sống với anh Nguyễn Tuấn A thì anh chị có 01 (một) người con chung Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012), từ khi vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 đến nay thì cháu My đều sống cùng với anh Nguyễn Tuấn A và ông bà nội tại địa chỉ ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ) do đó, sau khi ly hôn chị Dđồng ý giao con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012) cho anh Nguyễn Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu My đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị D không cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012), nhưng khi làm có tiền chị Dsẽ gửi cho anh Nguyễn Tuấn A phụ nuôi cháu Nguyễn Ngọc Diễm My.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị D tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Tuấn A: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Trương Thị D tại Thông báo thụ lý vụ án số: 94/TB-TLVA, ngày 21 tháng 4 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Tuấn A, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Tuấn A đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Nguyễn Tuấn A đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Nguyễn Tuấn A nhưng anh Nguyễn Tuấn A không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Nguyễn Tuấn A đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Trương Thị D.
Tại biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của con chưa thành niên lập ngày 09 tháng 5 năm 2025, cháu Nguyễn Ngọc Diễm M trình bày: Hiện nay cháu đang sống cùng với cha và ông bà nội, cuộc sống của cháu hiện nay ổn định. Nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha và ông bà nội.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ̉-Cần Thơ trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị D, về việc chị Dyêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A, đồng thời chị D yêu cầu giao con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M (nữ, sinh ngày 22/10/2012) cho anh Nguyễn Tuấn A và ông bà nội tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu My đủ 18 (mười tám) tuổi và chị D không cấp dưỡng nuôi con. Còn về tài sản chung, nợ chung chị D tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Trương Thị D vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trương Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị và anh Nguyễn Tuấn A. Bị đơn anh Nguyễn Tuấn A có nơi cư trú ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D và anh Nguyễn Tuấn A xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó, việc chị Trương Thị D và anh Nguyễn Tuấn A tiến đến hôn nhân và được Uỷ ban nhân dân thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nay Uỷ ban nhân dân xã Tân Phước Hưng, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02 tháng 8 năm 2013 là hoàn toàn đúng theo quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị D trình bày do vợ chồng tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, anh chị thường xuyên cãi vã. Chị Trương Thị D và anh Nguyễn Tuấn A đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Trương Thị D vẫn cương quyết xin ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị D và anh Nguyễn Tuấn A thì hiện nay, anh chị đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị D.
[3.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Trương Thị D yêu cầu tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012) cho cho anh Nguyễn Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu My đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Trương Thị D và anh Nguyễn Tuấn A sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay thì cháu My đều do anh Nguyễn Tuấn A và ông bà nội trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, cuộc sống ổn định. Đồng thời, tại biên bản ghi ý kiến cháu My có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng cha ruột là anh Nguyễn Tuấn A.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu My nên việc giao cháu My cho anh Nguyễn Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012) cho anh Nguyễn Tuấn A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu My đủ 18 (mười tám) tuổi, chị Trương Thị D được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Trương Thị D thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, chị Trương Thị D là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Tuấn A không văn bản yêu cầu chị Dcấp dưỡng nuôi cháu My. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị Trương Thị D tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Chị Trương Thị D tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D được ly hôn với Nguyễn Tuấn A.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M (nữ, sinh ngày 22/10/2012) cho anh Nguyễn Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: anh Nguyễn Tuấn A không yêu cầu chị Trương Thị D cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Diễm M(nữ, sinh ngày 22/10/2012) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.3 Sau khi ly hôn, chị Trương Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M (nữ, sinh ngày 22/10/2012), anh Nguyễn Tuấn A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Chị Trương Thị D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Trương Thị D tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Trương Thị D tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trương Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 13, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001723 ngày 07 tháng 02 năm 2025, chị Trương Thị D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 6-Cần Thơ; - Phòng THAKV6, THADS TPCT; - Phòng THAKV13, THADS TPCT; - Các đương sự; - UBND xã Tân Phước Hưng, TP.Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |