vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V.

Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 01/5/2012 cho anh Nguyễn Minh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung Nguyễn Yến V, sinh ngày 15/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải có nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thuý H - anh Nguyễn Minh V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày 05-8-2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Xuân Nghi

2. Ông Biền Ngân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17/7/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuý H; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, tỉnh Quảng Trị (trước đây là thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình). Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh V; nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị (trước đây là thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp và hòa giải, cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Về quan hệ hôn nhân thì giữa chị và anh Nguyễn Minh V có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 11/7/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và hoà thuận, tuy nhiên mấy năm về sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, lý do vợ chồng không hiểu tính nhau, không tôn trọng và không tin tưởng nhau, anh V không chịu khó làm ăn, phụ giúp gia đình, nhiều lần uống rượu về gây gổ, chửi mắng vợ con, vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn căng thẳng. Đến tháng 03/2025 thì chị về nhà ngoại sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tại chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể sống chung cùng nhau được nên nguyện vọng mong muốn xin được ly hôn với anh Nguyễn Minh V.

Về quan hệ con chung: Theo chị H thì giữa vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Quang V, sinh ngày 01/5/2012 và Nguyễn Yến V, sinh ngày 15/10/2014. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Chị H trình bày, giữa vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng như không cho ai vay nợ của vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp và hòa giải, cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Minh V trình bày: Về quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân giữa anh với chị H như ý kiến trình bày của chị H. Anh và chị Nguyễn Thị Thúy H đi đến kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 11/7/2011. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do hoàn cảnh kinh tế gia đình, vợ chồng không hiểu tính nhau nên dẫn đến vợ chồng cãi vã nhau. Anh mong muốn chị H bỏ qua những mâu thuẫn để vợ chồng quay về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái. Nhưng nếu chị H cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý, thống nhất ly hôn theo nguyện vọng của chị H.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Quang V, sinh ngày 01/5/2012 và Nguyễn Yến V, sinh ngày 15/10/2014. Sau khi ly hôn thì anh V có nguyện vọng được nuôi con Nguyễn Quang V và giao con Nguyễn Yến V cho chị H nuôi dưỡng, không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh V trình bày, giữa vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng như không cho ai vay nợ của vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi dưỡng con chung vì vậy, xác định đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị) theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là UBND xã T, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 11/7/2011, vì vậy quan hệ hôn nhân là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, không lâu sau đó đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, là do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng về quan điểm sống, không tôn trọng và không tin tưởng lẫn nhau, do vậy thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau; hai bên đã sống ly thân từ tháng 3/2025 cho đến nay, không tìm được hướng đi chung, không còn quan tâm, lo lắng gì đến nhau, không còn giải pháp hàn gắn và xác định không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục sống chung cùng nhau được nữa. Chị H và anh V thống nhất thỏa thuận tự nguyện ly hôn. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V.

Về quan hệ con chung:

Giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V có 02 con chung tên là Nguyễn Quang V, sinh ngày 01/5/2012 và Nguyễn Yến V, sinh ngày 15/10/2014. Quá trình giải quyết vụ án các bên không thống nhất được việc nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Thúy H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu anh V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Minh V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quang V và giao con chung Nguyễn Yến V cho chị Nguyễn Thị Thúy H được trực tiếp nuôi dưỡng và không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng mong muốn được nuôi con của anh V, chị H là hoàn toàn hợp pháp, chính đáng. Anh V, chị H đều có khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất cho các cháu, xem xét điều kiện và khả năng thực tế việc chăm nom, nuôi dưỡng con của các bên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cho mỗi người nuôi dưỡng một con chung như vậy là phù hợp. Giao con chung Nguyễn Quang V cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung Nguyễn Yến V cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cho mỗi người nuôi một con sau khi ly hôn và các bên cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V thống nhất thừa nhận giữa vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ của vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H thống nhất chịu tiền án phí ly hôn để nộp sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Minh V.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 01/5/2012 cho anh Nguyễn Minh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung Nguyễn Yến V, sinh ngày 15/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H chịu 150.000 đồng tiền án phí ly hôn để nộp sung vào ngân sách nhà nước. Số tiền án phí chị H phải chịu trên được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu số 0002193, ngày 19/3/2025. Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 150.000 đồng.

Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ