- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/8/2025 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Đạm và ông Hoàng Trọng Minh Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Huế.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Huế, thành phố Huế tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 98/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ 4, thôn Đ, phường H, thành phố Đ. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
Số Căn cước công dân: …… do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính cấp ngày 23/7/2024.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh P, sinh năm: 1982; địa chỉ thường trú: Số 7 Nguyễn Tư Giản, phường P, thành phố H. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Số Căn cước công dân: … do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính cấp ngày 01/9/2021.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Cao Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Anh P đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Q (nay là phường H, thành phố Đ) vào ngày 26/01/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại địa chỉ số 7 Nguyễn Tư Giản, phường P, thành phố H. Quá trình sinh sống, vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hai bên đã hơn ba năm không còn chung sống với nhau. Hiện cuộc sống mỗi người tự lo liệu, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H nhận thấy không còn tình cảm với anh P nên chị Cao Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Anh P để ổn định cuộc sống của mình.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị H xác nhận vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có nợ chung.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh P cố tình không đến nên không có lời khai và không hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Cao Thị H, xử cho chị Cao Thị H được ly hôn anh Nguyễn Anh P.
- Về con chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Xét qua đơn khởi kiện của chị Cao Thị H, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Anh P có nơi cư trú tại địa chỉ số 7 Nguyễn Tư Giản, phường P, thành phố H. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
Anh Nguyễn Anh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của đương sự, kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, ý kiến của chính quyền địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Anh P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03 của Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Q (nay là phường H, thành phố Đ) vào ngày 26/01/2022 nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Anh P đã sống ly thân nhiều năm, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phương.
Quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng anh P vẫn không đến Toà án làm việc. Điều này thể hiện anh P không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, từ bỏ hôn nhân. Xét thấy hôn nhân là sự tự nguyện, nay tình trạng mâu thuẫn của đôi bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh P. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị H.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Anh P không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị H.
Chị Cao Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Anh P; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Anh P không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về tài sản chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Chị Cao Thị H xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét..
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí giải quyết ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001171 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố Huế (cũ).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Huế; - VKSND Khu vực 2 - Huế; - Phòng THADS Khu vực 2 - Huế; - UBND phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng (ĐKKH số 03 ngày 26/01/2022); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu dán. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Hằng |