- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân về tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - LĐ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2025. Về việc: “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - LĐ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Hoài Tân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Hồng Vinh
2. Ông Lê Chánh Ngôn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong - thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11
- LĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - LĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 79/2025/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/HNGĐST-QĐ ngày 23/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L - sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn HT, xã TT, tỉnh LĐ (trước đây là thôn HT, xã Tân Thuận, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận).
Chỗ ở hiện nay: Tổ 6, ấp TĐ, xã XM, thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Tổ 6, ấp TĐ, xã BT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Bị đơn: Ông Trần Văn Q - sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn HT, xã TT, tỉnh LĐ (trước đây là thôn HT, xã TTh, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị L trình bày: bà và ông Trần Văn Q quen biết yêu thương nhau và chung sống với nhau từ năm 2001, đăng ký kết hôn tại xã XM, thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Ủy ban nhân dân xã BT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) vào ngày 25/4/2001. Sau khi kết hôn bà và ông Q thời gian đầu cuộc sống hai vợ chồng hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do giữa hai người bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, ông Q thường xuyên chửi bới, không quan tâm đến bà. Bà cố gắng hàn gắn và thay đổi để sống chung nhưng không được, hiện tại hai vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, để giải thoát cho nhau lên bà làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn Q.
Về con chung: bà và ông Q có 04 con chung tên Trần Văn Th - sinh ngày 09/02/2002; Trần Văn T - sinh ngày 08/02/2004; Trần Tuyết Tr - sinh ngày 03/6/2006 và Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014. 03 cháu đầu đã trên 18 tuổi, nguyện vọng sau khi ly hôn bà Trần Thị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014 đến khi trưởng thành, bà không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án (lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử) bị đơn là ông Trần Văn Q không hợp tác, không đến Tòa án để trình bày mặc dù đã được tống đạt và triệu tập hợp L nhiều lần do vậy không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện các thủ tục đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - LĐ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L, cho bà Trần Thị L được ly hôn với ông Trần Văn Q.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về con chung: Xét thấy, nguyện vọng các cháu Trần Thị Bích K tiếp tục được ở với mẹ, bà L cũng có nguyện vọng sau khi ly hôn được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Kiều. Do vậy, đề nghị giao con chung tên Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014 cho bà Trần Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Nguyên đơn bà Trần Thị L không có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trần Thị L nộp đơn xin ly hôn với ông Trần Văn Q có địa chỉ tại thôn HT, xã TT, tỉnh LĐ (trước đây là thôn HT, xã TTh, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận), căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - LĐ.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Trần Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp L lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về yêu cầu khởi kiện:
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa bà Trần Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 11 - LĐ (trước đây là TAND huyện HTN, tỉnh Bình Thuận) giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn Q. Với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án đã thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong thời gian dài; giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã, hiện nay hai bên đã sống ly thân từ năm 2020, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, mạnh ai nấy sống. Hơn thế nữa Tòa án đã tống đạt hợp L nhiều lần triệu tập và tiến hành mở các phiên hòa giải nhưng ông Trần Văn Q đều vắng mặt, cho thấy ông Trần Văn Q cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L.
Như vậy, có thể khẳng định rằng tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị L và ông Trần Văn Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị L.
Về con chung: Bà Trần Thị L và ông Trần Văn Q có 04 con chung tên Trần Văn Th - sinh ngày 09/02/2002; Trần Văn T - sinh ngày 08/02/2004; Trần Tuyết Tr - sinh ngày 03/6/2006 và Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014. 03 cháu đầu đã trên 18 tuổi, chỉ có cháu Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014 là chưa đủ 18 tuổi. Cháu K hiện đang sống với mẹ, nguyện vọng của cháu K nếu ba mẹ ly hôn thì được sống cùng mẹ là bà Trần Thị L. Nguyện vọng sau khi ly hôn bà L muốn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K đến khi trưởng thành, bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Do vậy, để đảm bảo cho cháu K cuộc sống ổn định, phát triển tâm sinh lý bình thường HĐXX giao con chung tên Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014 cho bà Trần Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Nguyên đơn không có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án không gửi ý kiến về vấn đề cấp dưỡng tiền nuôi con chung do vậy được coi là các đương sự không có yêu cầu về tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp về tiền cấp dưỡng nuôi con chung thì các đương sự có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
Về tài sản và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 143, 144, Điều 227, 228 và Điều 266, 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L, bà Trần Thị L được ly hôn với ông Trần Văn Q.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Bích K - sinh ngày 09/4/2014 cho bà Trần Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định cua pháp luật.
3. Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Nguyên đơn không có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án không gửi ý kiến về vấn đề cấp dưỡng tiền nuôi con chung do vậy được coi là các đương sự không có yêu cầu giải quyết về tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp về tiền cấp dưỡng nuôi con chung thì các đương sự có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005581 ngày 17/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện HTN. Bà Trần Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 11; - Thi hành án dân sự tỉnh LĐ; - UBND xã Xuyên Mộc, thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài Tân |