vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc ly hôn anh Nguyễn Tuấn C.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Khôi N, sinh ngày 17/4/2023 cho đến trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C phải cấp dƣỡng nuôi con. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Chị Nguyễn Thị Thùy T- BĐ: Anh Nguyễn Tuấn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc ly hôn anh Nguyễn Tuấn C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14-02-2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và ông Chu Quang Liêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký TAND huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1997;

ĐKHKTT: thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

Chỗ ở hiện nay: phòng 1...., tòa nhà A, đƣờng L, phƣờng H, TP Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn C, sinh ngày 1997;

ĐKHKTT: thôn Q, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

Nơi làm việc: Trung tâm .... huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963.

Trú tại: thôn Q, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

+ Bà Phạm Thị G, sinh năm 1978;

Trú tại: thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

Chị T đề nghị giải quyết vắng mặt. Anh C, ông T, bà G đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy T trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tuấn C kết hôn với nhau trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Tứ Kỳ ngày 14/10/2022. Sau khi kết hôn, anh chị thuê nhà sinh sống tại TP Hải Phòng một thời gian đến tháng 4/2023 thì chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh C vẫn học tập, sinh sống tại TP Hải Phòng. Vợ chồng hạnh phúc đến tháng 3/2023 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt. Anh C không chung thủy, có quan hệ với ngƣời phụ nữ khác, chị có tham gia nhƣng anh C không thay đổi, bên cạnh đó anh C còn thƣờng xuyên rƣợu chè, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra xô xát, cãi vã, anh C có lời nói xúc phạm và đánh chị. Cũng từ đó mà vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh C để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Khôi N, sinh ngày 17/4/2023. Do cháu còn nhỏ và đang ở với chị từ lúc sinh ra đến nay. Vì vậy, chị xin đƣợc nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con. Hiện chị làm spa, có thu nhập và có sự hỗ trợ của bố mẹ đẻ chị để chị chăm sóc con với những điều kiện tốt nhất.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn và nhiều lần triệu tập anh C đến làm việc, tham gia hòa giải thông qua đại diện gia đình, cơ quan nơi anh C công tác, nhƣng bị đơn không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

+ Kết quả làm việc với ông Nguyễn Văn T (bố anh C) xác định: Anh C, chị T đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, anh chị thuê nhà trọ và sinh sống ở TP Hải Phòng, đến tháng 4/2023 chị T về nhà bố mẹ đẻ ở và sinh con, còn anh C vẫn học tại TP Hải Phòng. Quá trình chung sống, ông nắm bắt đƣợc vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, không hiểu nhau do thời gian chung sống quá ngắn. Từ thời điểm chị T sinh con, anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Khi Tòa án giao các văn bản tố tụng, ông đều thông báo cho anh C biết nhƣng anh ấy không có ý kiến gì. Anh chị có một con chung nhƣ chị T đã trình bày, hiện cháu đang ở với chị T. Trƣờng hợp anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho Cƣờng nuôi dƣỡng, hiện anh C cũng có nghề nghiệp, có thu nhập và ông bà sẽ cam kết hỗ trợ anh C trong việc chăm sóc con.

+ Kết quả làm việc với bà Phạm Thị G (mẹ chị T) xác định: Về thời gian và điều kiện kết hôn giữa chị T, anh C nhƣ nguyên đơn đã trình bày. Quá trình chung sống, bà nắm bắt đƣợc vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, mỗi ngƣời một tính cách trái ngƣợc nhau. Cũng từ lúc chị T sinh con, anh chị sống ly thân mỗi ngƣời một nơi. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã đƣợc hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhiều nhƣng anh chị không thay đổi, tình cảm không có chuyển biến theo hƣớng tích cực, vợ chồng vẫn sống ly thân. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, bà xác định tình cảm vợ chồng là do anh chị tự quyết định. Anh chị có một con chung nhƣ chị T đã trình bày, hiện cháu đang ở với chị T. Trƣờng hợp anh chị ly hôn và chị T đƣợc nuôi con, ông bà sẽ cam kết hỗ trợ chị T trong việc chăm sóc con với điều kiện tốt nhất.

+ Kết quả làm việc với đại diện UBND xã và các đoàn thể xã C, trƣởng thôn Q đều cung cấp: Anh C, chị T đƣợc tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại TP Hải Phòng, khi chị T sinh con thì chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở xã Hƣng Đạo, còn anh C vẫn học tập tại Hải Phòng. Sau khi anh C học xong thì về ở cùng với bố mẹ, còn chị T không về ở cùng với anh C. Do anh chị không sinh sống ở địa phƣơng nên địa phƣơng cũng không nắm bắt đƣợc vợ chồng có mâu thuẫn không? nguyên nhân là gì?. Anh C vẫn có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại, hiện đang sinh sống ở địa phƣơng và làm việc tại Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ. Vợ chồng có 01 con chung nhƣ chị T đã trình bày, hiện đang ở với mẹ. Nay, chị T xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày. Anh C đã đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng không đến tham gia phiên tòa, không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc ly hôn anh Nguyễn Tuấn C; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Khôi N, sinh ngày 17/4/2023 cho đến khi con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai đƣợc cản trở. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Tuấn C đƣợc Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt chị T, anh C.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Nguyễn Tuấn C kết hôn trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Tứ Kỳ ngày 14/10/2022 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc, hoà thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm. Theo chị T trình bày, anh C hay rƣợu chè, không quan tâm, chăm sóc vợ con, có lối sống không chung thủy từ đó mà vợ chồng liên tục xẩy ra mâu thuẫn, cãi vã. Lời khai của chị T cơ bản phù hợp với lời khai của đại diện hai bên gia đình và cung cấp của chính quyền xã C, trƣởng thôn Q. Từ khi chị T về nhà bố mẹ đẻ ở và sinh con đến nay, vợ chồng ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Căn cứ vào các tài liệu Toà án thu thập đƣợc xác định anh C hiện vẫn đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và sinh sống tại thôn Q, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, hiện đang làm việc tại Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ. Chị T đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn tại thời điểm khởi kiện và đã đƣợc UBND xã C và cơ quan nơi anh C làm việc xác nhận đƣợc coi là đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên khi đƣợc Tòa án triệu tập, anh C cũng không đến Tòa án làm việc, tham gia hòa giải, không gửi văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm của mình, gây khó khăn cho chị T trong việc ly hôn. Thực tế từ khi chị T về nhà bố mẹ đẻ, anh C cũng không có giải pháp nào để vợ chồng đoàn tụ, tình cảm vợ chồng không có chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực, điều đó chứng tỏ anh C cũng không có thiện chí muốn đoàn tụ, chị T vẫn cƣơng quyết ly hôn. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị T đƣợc ly hôn anh C là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Khôi N, sinh ngày 17/4/2023. Xét quan điểm của chị T xin đƣợc nuôi dƣỡng con chung, cũng nhƣ ý kiến của đại diện gia đình anh C thấy rằng: Theo khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Hiện cháu Nguyên mới đƣợc hơn một tuổi, vẫn còn nhỏ và cần sự chăm sóc của ngƣời mẹ nhiều hơn, chị T hiện là lao động tự do, có thu nhập, đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ và không thuộc trƣờng hợp không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Bố mẹ chị T cũng cam kết tạo điều kiện về chỗ ăn ở, sinh hoạt và hỗ trợ chị T trong việc nuôi con với những điều kiện tốt nhất. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, HĐXX giao cho chị T đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung Nguyễn Khôi N cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp với các điều 81, 82, 83 Luật HNGĐ. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy T khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc ly hôn anh Nguyễn Tuấn C.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thùy T đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Khôi N, sinh ngày 17/4/2023 cho đến trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C phải cấp dƣỡng nuôi con. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai ký hiệu: BLTU/23, số: 0005736 ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ