vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị V được ly hôn anh Cà Văn L.

Về con chung: Giao cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017 cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị V và Cà Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị V được ly hôn anh Cà Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 08-01-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Thiệp

2. Bà Lý Thị Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị V, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Bản C, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Cà Văn L, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Bản C, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La.

Anh Lả hiện đang chấp hành án tại phân trại số 04, trại giam Thanh Phong, Cục C10, Bộ Công an. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị V trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị V và anh Cà Văn L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 05/12/2016, tại Ủy ban nhân dân xã Chiềng B, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Cà Văn L đang chấp hành án tại phân trại số 04, trại giam Thanh Phong, Cục C10, Bộ Công an. Chị Lò Thị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Cà Văn L.

Về con chung: Chị Lò Thị V và anh Cà Văn L có 02 (hai) con chung là cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017. Hiện tại cháu Cà Thị Tivà cháu Cà Chí T đang sống chung với chị Lò Thị V.

Chị Lò Thị V đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cà Thị Tivà cháu Cà Chí T. Chị Lò Thị V không yêu cầu anh Cà Văn L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị V cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai, bị đơn anh Cà Văn L trình bày (Có xác nhận của trại giam Thanh Phong, Cục C10, Bộ Công an):

Về hôn nhân: Anh Cà Văn L và chị Lò Thị V kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 05/12/2016, tại Ủy ban nhân dân xã Chiềng B, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Lả vi phạm pháp luật và đang chấp hành án. Anh Cà Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Cà Văn L và chị Lò Thị V có 02 (hai) con chung là cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017. Anh Cà Văn L đề nghị giao cho ông, bà nội được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cà Thị Tivà cháu Cà Chí T. Anh Cà Văn L không yêu cầu chị Lò Thị V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Anh Cà Văn L khai không có nợ chung.

Nguyên đơn không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do Tòa án thu thập và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Lò Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Việt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Cà Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Lả giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang chấp hành án tại trại giam Thanh Phong, Cục C10, Bộ Công an đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

V quan hệ h n nhân: Xử cho chị Lò Thị V được ly hôn anh Cà Văn L.

V con chung: Giao cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017 cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

V cấp dưỡng nu i con: Anh Cà Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị V không yêu cầu).

V tài sản chung: Không có.

V tài sản riêng: Không có.

V nợ chung: Chị Lò Thị V, anh Cà Văn L không có nợ chung.

V án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lò Thị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị V yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Cà Văn L có địa chỉ tại bản Ít Cang, xã Chiềng B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lò Thị V, bị đơn anh Cà Văn L: Nguyên đơn chị Lò Thị V, bị đơn anh Cà Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị V và anh Cà Văn L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 05/12/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Chiềng B, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Cà Văn L đang chấp hành án tại trại số 04, trại giam Thanh Phong, Cục C10, Bộ Công an. Chị Việt cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Cà Văn L. Anh Cà Văn L nhất trí ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Việt và anh Lả trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Lò Thị V được ly hôn anh Cà Văn L. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lò Thị V và anh Cà Văn L có 02 (hai) con chung là cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017. Hiện tại cháu Cà Thị Tiến và cháu Cà Chí T đang sống chung với chị Lò Thị V. Chị Lò Thị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cà Thị Tiến và cháu Cà Chí T. Do anh Lả đang đi chấp hành án, anh Lả đề nghị giao cháu Cà Thị Tiến và cháu Cà Chí T cho ông, bà nội được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Lò Thị V và anh Cà Văn L đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu thu thập của Toà án: Chị Việt có nơi cư trú ổn định, chị Việt trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, có thu nhập. Anh Cà Văn L không có công việc, không có thu nhập (anh Lả đang chấp hành án).

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền, lợi ích của con, sự phát triển về thể chất, cần giao cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017 cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Cà Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Việt không yêu cầu, anh Lả không có khả năng cấp dưỡng).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị V, anh Cà Văn L không có nợ chung.

Về án phí: Chị Lò Thị V có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Lò Thị V là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lò Thị V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị V được ly hôn anh Cà Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Cà Thị Tiến, sinh ngày 09/9/2015 và cháu Cà Chí T, sinh ngày 26/9/2017 cho chị Lò Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Cà Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị V không yêu cầu).

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về tài sản riêng: Không có.

5. Về nợ chung: Chị Lò Thị V và anh Cà Văn L không có nợ chung.

6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lò Thị V.

7. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị V, anh Cà Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ