- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn anh K"
- Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Phạm Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ - ST Ngày: 06 - 01 - 2025. V/v ly hôn giữa chị L và anh K. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Vui.
2. Ông Vũ Mạnh Toàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2024/TLST -HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2024/QĐST - HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm E Phú Thọ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
+ Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm E Phú Thọ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa vắng mặt chị L, anh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên toà hôm nay chị Trần Thị L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Trần Thị L trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Chị kết hôn với anh Phạm Văn K vào tháng 9/2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 04/2020 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh K không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn K.
Về con chung: Giữa chị và anh K không có con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay anh Phạm Văn K vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã triệu tập anh Phạm Văn K đến Tòa án để làm việc nhưng anh K không hợp tác. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã tiến hành niêm yết đầy đủ những văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Phạm Văn K; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị L phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Phạm Văn K cư trú tại xã N huyện N tỉnh Nam Định. Nay chị Trần Thị L xin ly hôn anh Phạm Văn K thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay anh Phạm Văn K vắng mặt nhưng anh K nhưng anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh K là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị L và anh Phạm Văn K vào tháng 9 năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 4/2020 thì vợ chồng chị L anh K sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh K không có quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa chị L và anh K.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh K đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị L xin ly hôn anh K nên chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Trần Thị L và anh Phạm Văn K đều thống nhất xác định vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Trần Thị L và anh Phạm Văn K đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1 - Xử ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Phạm Văn K.
2 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị L đã nộp theo biên lai số 0001477 ngày 07/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân Tỉnh. - VKSND huyện. - THADS huyện. - UBND xã Nghĩa Hải. - Các đương sự. - Lưu án văn | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Văn Chủng |