vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

1. Về quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà L và ông N là vợ chồng. 2. Về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu không công nhận vợ chồng, tranh chấp về nuôi con chung (L-N)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
  • Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 01 - 2025
V/v yêu cầu không công nhận vợ
chồng, tranh chấp về nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc yêu cầu không công nhận vợ chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 531/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 420/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà L. Địa chỉ HKTT: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp A1, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông N. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà L trình bày: Bà L và ông N quen biết nhau, có tình cảm và về sống chung trên tinh thần tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, hai người có 02 người con chung tên P sinh ngày 11/4/2002, hiện nay đã trưởng thành, có cuộc sống riêng và D sinh ngày 27/10/2007, hiện nay đang sống chung với ông N. Sau khi về sống chung, hai người có thời gian dài chung sống hạnh phúc nhưng gần đây hai bên thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, hai người đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay.

Nay nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về hôn nhân: Bà L yêu cầu không công nhận bà L và ông N là vợ chồng.

+ Về con chung: Anh P đã trưởng thành, nên bà L không yêu cầu giải quyết. Bà L đồng ý giao cháu D cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên bà L không yêu cầu giải quyết.

Bà L đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Mọi vấn đề có liên quan bà L vẫn giữ nguyên theo lời trình bày có trong hồ sơ và cam kết không khiếu nại gì về sau.

- Bị đơn ông N: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N nhưng ông N không có mặt tham gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị xét xử vắng mặt thì bà L vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo đơn khởi kiện, về hôn nhân, bà L yêu cầu giải quyết không công nhận bà L và ông N là vợ chồng; về con chung, bà L đồng ý giao người con chung là cháu D cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; về tài sản, nợ chung, bà L không yêu cầu giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Kế Sách thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật yêu cầu không công nhận vợ chồng là đúng, nhưng chưa đầy đủ; Hội đồng xét xử xác định bổ sung quan hệ pháp luật yêu cầu không công nhận vợ chồng, tranh chấp về nuôi con chung theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông N là bị đơn, có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, huyện C; Tòa án nhân dân huyện Kế Sách thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng: Bà L trình bày bà L và ông N quen biết nhau, có tình cảm và về sống chung trên tinh thần tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nay nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu không công nhận bà L và ông N là vợ chồng. Như vậy, bà L và ông N là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật, đã chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, đồng thời quan hệ của bà L và ông N không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy, việc bà L yêu cầu không công nhận bà L và ông N là vợ chồng là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con: Trong quá trình chung sống, bà L và ông N có với nhau 02 người con chung tên P sinh ngày 11/4/2002 và D sinh ngày 27/10/2007. Hiện nay, anh P đã thành niên, không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật, bà L và ông N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết; cháu D đang sống cùng với ông N và do ông N trực tiếp nuôi dưỡng; ông N có đủ khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng cháu D; bà L đồng ý giao cháu D cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng; việc tiếp tục giao cháu D cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu D, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L và giải quyết giao cháu D cho ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bà L thực hiện các quyền này. Bà L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông N. Trường hợp bà L có các hành vi này thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của bà L. Sau khi bản án không công nhận quan hệ giữa bà L và ông N là vợ chồng có hiệu lực pháp luật, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng: Bà L trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

1.1. Về quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà L và ông N là vợ chồng.

1.2. Về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con:

- Người con chung tên P sinh ngày 11/4/2002 hiện nay đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật, bà L và ông N không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Giao người con chung là cháu D sinh ngày 27/10/2007 cho ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Bà L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bà L thực hiện các quyền này. Bà L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông N. Trường hợp bà L có các hành vi này thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của bà L theo quy định của pháp luật. Sau khi bản án không công nhận quan hệ giữa bà L và ông N là vợ chồng có hiệu lực pháp luật, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông N không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

1.4. Về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng: Bà L trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008211, ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà L đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ