vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Nhật Nguyệt Á về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Nhật Nguyệt Á được ly hôn với ông Huỳnh Văn T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Nhật Nguyệt Á về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/3/2025
Về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thủy

Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 282/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Nhật Nguyệt Á, sinh ngày 31/07/1995; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 18/04/2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: Phòng A Khu C, đường N, tổ F, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh ngày 03/05/1990; Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/9/2024; quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Võ Nhật Nguyệt Á trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Nhật Nguyệt Á và ông Huỳnh Văn T có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 22/9/2016, số đăng ký: 154; hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng sau khi kết hôn thì về sống tại nhà cha mẹ của ông T tại Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau về tính tình, ông T ham chơi, không chăm chỉ làm việc, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Tháng 01 năm 2020 ông T làm ăn thua lỗ bỏ nhà đi đâu không rõ, không liên lạc gì với vợ con; ông T nợ nần ngoài xã hội và bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H truy nã. Từ tháng 3 năm 2020 bà Á đã về ở nhà mẹ ruột tại Khu C, đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng cho đến nay, bà Á và ông T không còn liên lạc gì với nhau.

Nay bà Võ Nhật Nguyệt Á xác định không còn tình cảm thương yêu ông Huỳnh Văn T, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

- Về con chung: Bà Võ Nhật Nguyệt Á xác định bà và ông Huỳnh Văn T có 01 (một) người con chung là Huỳnh Võ Khả D, sinh ngày 11/3/2017.

Ly hôn, bà Á có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Á xác định bà và ông T không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Bà Á xác định bà và ông T không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng ông bà.

* Bị đơn là ông Huỳnh Văn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không có ý kiến, văn bản phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Nhật Nguyệt Á.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Nhật Nguyệt Á đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn".

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Võ Nhật N Ánh được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Huỳnh Võ Khả D, sinh ngày 11/3/2017 cho bà Võ Nhật N Ánh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, ông Huỳnh Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Á xác định bà và ông T không có tài sản chung nên không đề cập giải quyết.

Về nợ chung: Bà Á xác định bà và ông T không có nên không đề cập giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bà Võ Nhật N Ánh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về thủ tục giải quyết vụ án; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn là bà Võ Nhật Nguyệt Á khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Huỳnh Văn T có địa chỉ tại thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn là ông Huỳnh Văn T vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Nhật Nguyệt Á và ông Huỳnh Văn T có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 22/9/2016, số đăng ký: 154; hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà Á và ông T sau khi kết hôn cùng chung sống ở nhà cha mẹ của ông T tại thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Bà Á xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về tính tình, quan điểm sống, ông T không có trách nhiệm với gia đình, vợ con; nợ nần ngoài xã hội; bỏ nhà đi khỏi địa phương và không liên lạc gì với vợ con nhiều năm nay, ông T bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H truy nã. Mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Để ổn định cuộc sống, bà Võ Nhật Nguyệt Á đã làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức, trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc và cùng thương yêu nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhiều lần, tạo điều kiện để vợ chồng ông bà trở về đoàn tụ; Tòa án đã đến tận nơi cư trú gửi thông báo, giấy triệu tập; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, triệu tập hợp lệ ông T tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt, điều này thể hiện sự không mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình của ông T. Do đó, nguyện vọng yêu cầu được ly hôn để không ràng buộc bởi quan hệ pháp lý của bà Võ Nhật Nguyệt Á là chính đáng và có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông Huỳnh Văn T không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà Á nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Về con chung:

Bà Võ Nhật Nguyệt Á xác định bà và ông Huỳnh Văn T có 01 (một) người con chung là Huỳnh Võ Khả D, sinh ngày 11/3/2017. Ly hôn, bà Á có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy cha mẹ đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc nuôi dạy con cái. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của cả bà Á và ông T cũng như nguyện vọng của con là được ở với ai. Theo bà Á thì hiện nay bà đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi được nuôi con của bà Á cũng như nguyện vọng của con Huỳnh Võ Khả D là được ở với bà Á nên cần giao con chung là Huỳnh Võ Khả D, sinh ngày 11/3/2017 cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, ông T không cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông Huỳnh Văn T không có ý kiến, nguyện vọng về vấn đề con chung nên Hội đồng xét xử không có sở để xem xét.

Về tài sản chung: Bà Á xác định bà và ông T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về nợ chung: Bà Á xác định bà và ông T không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng ông bà nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về Án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, buộc bà Võ Nhật Nguyệt Á phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng bà Võ Nhật Nguyệt Á phải chịu (đã tự thanh toán xong).

[9 ]Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Nhật Nguyệt Á về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn T.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Nhật Nguyệt Á được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

2. Về con chung:

Giao con chung là Huỳnh Võ Khả D, sinh ngày 11/3/2017 cho bà Võ Nhật N Ánh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Huỳnh Văn T không cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Á xác định bà và ông T không có tài sản chung nên Tòa án không đề cập giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Á xác định bà và ông T không có nợ chung nên Tòa án không đề cập giải quyết.

5. Về án phí: Buộc bà Võ Nhật Nguyệt Á phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0002353 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà Á đã nộp đủ án phí.

6. Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng tin trên B (sáu triệu đồng) và chi phí đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng), bà Võ Nhật Nguyệt Á phải chịu (bà Á đã tự thanh toán xong).

7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bị đơn là ông Huỳnh Văn T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

8. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ