vanban.org

Bản án 08/2025/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A (A) đối với anh Bùi Hữu Q về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc anh Bùi Hữu Q phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD2332401552 ngày 20/11/2023 gồm số tiền gốc là 207.400.000 đồng, tiền lãi là 135.561.889 đồng, lãi phạt là 11.533.643 đồng. Tổng số tiền anh Bùi Hữu Q phải trả là 354.495.532 đồng (làm tròn số th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A (A) đối với anh Bùi Hữu Q về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/DSST
Ngày: 25 - 7 - 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tống Xuân Tú.

2. Bà Phạm Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXX-ST, ngày 08 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A (A). Địa chỉ: Số 89, phố Láng Hạ, phường Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng - Chức danh: Chủ tịch HĐQT. (Vắng mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng Bắc - Chức danh: Trưởng phòng. Theo văn bản uỷ quyền số 10 ngày 12/02/2025 của ông Ngô Chí Dũng. (Vắng mặt)

Người được uỷ quyền lại: Ông Quách Đức Thành - Chức vụ: Trưởng bộ phận XLN (Vắng mặt), ông Phạm Văn Ư - Chức vụ: Chuyên viên XLN. Theo văn bản uỷ quyền số 3267.04 ngày 09/4/2025 của ông Nguyễn Hồng Bắc (Có mặt). ông Đào Mạnh Hùng - Chức vụ: Chuyên viên XLN. Theo văn bản uỷ quyền số 01/2025/UQ-KHCN ngày 01/5/2025 của ông Nguyễn Hồng Bắc. (Vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Bùi Hữu Q, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: Thôn Bùi, xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)

- Người đại diện theo ủy quyền của anh Bùi Hữu Q: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn Bùi, xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 4 năm 2025, lời khai của người đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn là ông Phạm Văn Ư đều trình bày: Ngân hàng A và anh Bùi Hữu Q có ký kết với nhau hợp đồng cho vay số LD2332401553 ngày 20/11/2023, số tiền vay 207.400.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, ngày giải ngân 20/11/2023, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 33%/năm, sau 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay, mức lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh là 37%/năm và sau đó được cố định trong suốt thời hạn cho vay còn lại. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn. Anh Q đã trả được Ngân hàng A số tiền 28.528.445 đồng (trong đó tiền gốc 0 đồng, tiền lãi 28.528.445 đồng). Trong quá trình S hiện hợp đồng anh Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng A nên toàn bộ khoản nợ trên bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn theo thỏa thuận như trong hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng A kể từ ngày 20/5/2024. Tạm tính đến này 25/7/2025 anh Q còn nợ Ngân hàng A số tiền là 354.495.532 đồng, trong đó: tiền gốc 207.400.000 đồng, tiền lãi 135.561.889 đồng, lãi phạt 11.533.643 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu anh Q phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, lãi, lãi phạt tính đến ngày 25/7/2025 là 354.495.532 đồng. Anh Bùi Hữu Q phải tiếp tục trả lãi phát sinh cho Ngân hàng A theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 26/7/2025 đến ngày anh Bùi Hữu Q S tế thanh toán hết nợ tại Ngân hàng A.

Tại biên bản hòa giải ngày 03/7/2025 và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, chị Nguyễn Thị S trình bày: Chị và anh Bùi Hữu Q là vợ chồng, anh Q do công việc bận mải không thể đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án nên anh Q đã ủy quyền cho chị tham gia tố tụng, thay mặt anh Q để giải quyết vụ án. Anh Bùi Hữu Q và Ngân hàng A có ký kết với nhau hợp đồng cho vay số LD2332401553 ngày 20/11/2023, số tiền vay 207.400.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, ngày giải ngân 20/11/2023, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 33%/năm, sau 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay, mức lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh là 37%/năm và sau đó được cố định trong suốt thời hạn cho vay còn lại. Sau khi ký kết hợp đồng thì anh Q đã được Ngân hàng A giải ngân và theo quy định hàng tháng anh Q đã S hiện nghĩa vụ đóng lãi cho Ngân hàng A, tính đến thời điểm hiện tại anh Q đã trả được cho Ngân hàng A số tiền lãi là 28.528.445 đồng và chưa trả được đồng tiền gốc nào. Hiện nay anh Q làm ăn gặp khó khăn nên chưa có điều kiện trả gốc và lãi cho Ngân hàng A theo như thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện anh Q và buộc anh Q phải trả Ngân hàng A số tiền tính đến ngày 25/7/2025 là 354.495.532 đồng (bao gồm cả tiền gốc, tiền lãi, tiền lãi chậm trả) thì anh Q đồng ý nhưng hiện nay anh Q chưa có điều kiện để trả Ngân hàng A, đề nghị Ngân hàng A cho anh Q lùi thời gian trả nợ thêm một thời gian nữa để anh Q thu xếp trả nợ cho Ngân hàng A, nếu Ngân hàng A không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 02/7/2025, bị đơn anh Bùi Hữu Q trình bày: Anh và Ngân hàng A có ký hợp đồng tín dụng số LD2332401553 ngày 20/11/2023, số tiền vay 207.400.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, ngày giải ngân 20/11/2023, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 33%/năm, sau 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay, mức lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh là 37%/năm và sau đó được cố định trong suốt thời hạn cho vay còn lại. Sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng A đã giải ngân số tiền trên cho anh. Trong quá trình S hiện hợp đồng anh đã thanh toán cho Ngân hàng A được số tiền 28.528.445 đồng đây là tiền lãi, chưa thanh toán được tiền gốc, lý do là do kinh tế khó khăn. Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu anh phải trả tiền gốc là 207.400.000 đồng, tiền lãi, tiền lãi phạt chậm trả thì anh đồng ý. Anh đề nghị Ngân hàng A cho anh chậm lại một gian để anh thu xếp trả nợ cho Ngân hàng A, nếu Ngân hàng A không đồng ý thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã S hiện đúng quy định của pháp luật và việc chấp hành pháp luật của đương sự: nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A (A) đối với anh Bùi Hữu Q. Buộc anh Bùi Hữu Q phải trả cho Ngân hàng A số tiền nợ gốc là 207.400.000 đồng đồng và tiền lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng số LD2332401553 ngày 20/11/2023. Anh Bùi Hữu Q phải tiếp tục trả lãi phát sinh cho Ngân hàng A theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 26/7/2025 đến ngày anh Bùi Hữu Q S tế thanh toán hết nợ tại Ngân hàng A. Anh Bùi Hữu Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại Ngân hàng A số tiền 7.052.000 đồng tạm ứng án phí mà Ngân hàng A đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu anh Bùi Hữu Q trả nợ tiền gốc và lãi theo hợp đồng cho vay đã ký kết, vì vậy cần xác định quan hệ tranh chấp là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"; bị đơn anh Bùi Hữu Q có nơi cư trú tại thôn Bùi, xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Anh Bùi Hữu Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng người đại diện theo ủy quyền của anh Q có mặt nên căn cứ vào quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 20/11/2023 Ngân hàng A và anh Bùi Hữu Q có ký hợp đồng số LD2332401553 với nội dung Ngân hàng A cho anh Q vay số tiền 207.400.000 đồng, thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi chậm trả và quy định phương thức trả nợ như hợp đồng tín dụng đã ký. Anh Bùi Hữu Q xác định có ký Hợp đồng tín dụng trên với Ngân hàng A. Hợp đồng tín dụng trên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, không bên nào bị lừa dối, ép buộc, tuân thủ theo quy định tại Điều 116, Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên là hợp đồng hợp pháp. Do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm S hiện các thoả thuận đã cam kết khi ký hợp đồng.

Sau khi Ngân hàng A ký hợp đồng số LD2332401553 ngày 20/11/2023 thì Ngân hàng đã giải ngân theo đúng quy định của Hợp đồng tín dụng, quá trình S hiện hợp đồng tính đến ngày 25/7/2025, anh Q đã trả cho Ngân hàng A số tiền là 28.528.445 đồng (trong đó: nợ gốc 0 đồng, nợ lãi 28.528.445 đồng). Kể từ ngày 20/5/2024 anh Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng A khởi kiện anh Q phải trả nợ cho Ngân hàng A là có căn cứ chấp nhận. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và S hiện nghĩa vụ trả nợ theo Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự, cần xử buộc anh Q phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho Ngân hàng A số tiền nợ gốc theo hợp đồng số LD2332401553 là 207.400.000 đồng.

Theo Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và anh Bùi Hữu Q đã thỏa thuận về lãi suất. Đây là hợp đồng vay giữa tổ chức tín dụng với cá nhân nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết theo hướng dẫn tại các Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Việc anh Q không trả nợ theo đúng cam kết nên Ngân hàng A yêu cầu Tòa án buộc anh Q phải thanh toán số tiền nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn phải trả tính từ thời điểm Ngân hàng A chuyển sang nợ quá hạn theo mức lãi suất nợ quá hạn tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2025) và buộc anh Q phải tiếp tục trả lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày anh Q S tế thanh toán hết nợ tại Ngân hàng A là có căn cứ chấp nhận.

Như vậy tính đến ngày 25/7/2025, anh Bùi Hữu Q còn nợ Ngân hàng A theo hợp đồng số LD2332401553 ngày 20/11/2023 tổng số tiền là 354.495.532 đồng, trong đó: tiền gốc 207.400.000 đồng, tiền lãi 135.561.889 đồng, lãi phạt 11.533.643 đồng.

Về án phí: Anh Bùi Hữu Q là bên vi phạm các hợp đồng tín dụng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật với tổng số tiền của hợp đồng cho vay là 354.495.532 đồng x 5% = 17.724.776 đồng (làm tròn là 17.724.000 đồng). Do yêu cầu của Ngân hàng A được chấp nhận nên trả cho Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí là 7.052.000 đồng.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A (A) đối với anh Bùi Hữu Q về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

2. Buộc anh Bùi Hữu Q phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD2332401552 ngày 20/11/2023 gồm số tiền gốc là 207.400.000 đồng, tiền lãi là 135.561.889 đồng, lãi phạt là 11.533.643 đồng. Tổng số tiền anh Bùi Hữu Q phải trả là 354.495.532 đồng (làm tròn số thành 354.495.000 đồng). Anh Bùi Hữu Q phải tiếp tục trả lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LD2332401552 ngày 20/11/2023 kể từ ngày 26/7/2025 cho đến ngày anh Q S tế thanh toán hết nợ tại Ngân hàng A.

3. Về án phí: Anh Bùi Hữu Q phải chịu 17.724.776 đồng (làm tròn là 17.724.000 đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần A (A) số tiền 7.052.000 đồng tạm ứng án phí Ngân hàng A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000630 ngày 28/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (Nay là Phòng THADS Khu vực 8 THADS tỉnh Hưng Yên).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được S hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Quốc Khánh

Cỡ chữ