vanban.org

Bản án 08/2024/HSST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 06/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự và trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trần Văn Thoại cùng đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HSST
Ngày: 06/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Quang.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Duy Ất

2. Bà Nguyễn Thị Xoan

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Đức Vinh - Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/HSST ngày 04 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2024/QĐXXST- HS, ngày 10 tháng 04 năm 2024 và theo Thông báo mở lại phiên toà số 216/2024/TB - TA, ngày 23 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20 tháng 01 năm 1995, tại huyện Đ, tỉnh T; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn T, xã Y, huyện Đ, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Trần Văn T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 3; Tiền án: Có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, cụ thể: Ngày 30/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 162/2020/HSST. Ngày 31/01/2024, chấp hành xong bản án; Tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 02/02/2024 cho đến nay tại xã Y, huyện Đ, tỉnh T. Có mặt.

2. Họ tên: Trần Nam T2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04 tháng 9 năm 1995, tại huyện N, tỉnh T; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn C, xã X, huyện N, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Trần Văn L và con bà Nguyễn Thị L1; Vợ: Nguyễn Thị N; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2024; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc, cụ thể: Ngày 04/7/2023, bị Công an phường Đ, thị xã H, tỉnh T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt số 17/QĐ-XPHC. Cùng ngày, chấp hành xong quyết định xử phạt.

Nhân thân: Ngày 28/4/2021, bị Công an phường Đ, thị xã H, tỉnh T xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 20/QĐ-XPHC. Cùng ngày, đã chấp hành xong quyết định xử phạt.

Bị cáo Trần Nam T2 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 02/02/2024 cho đến nay tại xã X, huyện N, tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Văn S, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ dân phố T, phường L, thành phố H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Vắng mặt.

2. Anh Trần Văn P, sinh năm 1987; Trú tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe. Có mặt.

3. Anh Lê Minh Đ, sinh năm 1988; Trú tại: Tổ dân phố I, phường T, thành phố H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Giám đốc công ty TNHH Đ1. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Kiều H2, sinh ngày: 10/3/1981; Trú tại: Khối phố B, phường H, thành phố H, tỉnh T. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Trọng Q, sinh ngày: 05/5/1984; Trú tại: Khối phố B, phường B, thành phố H, tỉnh T. Vắng mặt.

3. Anh Ngô Ngọc T3, sinh ngày: 03/4/1986; Trú tại: Thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm: 1975; Trú tại: Tổ dân phố H, phường Đ, thị xã H, tỉnh T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 11/01/2024 trong lúc Trần Văn T, Trần Nam T2 và Trần Văn P chờ lấy thảm nhựa nóng tại Trạm trộn bê tông nhựa nóng Đ thuộc tổ dân phố H, phường Đ, thị xã H, tỉnh T, thì Trần Nam T2 sang ngồi trên cabin xe ô tô của P nói chuyện với nhau. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Lê Văn S là nhân viên Trạm trộn bê tông nhựa nóng Đại Phát, biết được thông tin do thời tiết mưa to, công trình đang tạm dừng, không thực hiện bơm thảm nhựa nữa nên nảy sinh ý định rủ nhân viên lái xe tham gia đánh bạc. Sau đó, S đến đầu cabin xe ô tô của Trần Văn P rủ P và Trần Nam T2 tham gia đánh bạc, thì cả T2 và P đều đồng ý tham gia đánh bạc. Lúc này, thấy mới có ba người chơi, S rủ thêm Trần Văn T tham gia đánh bạc. Sau đó, cả bốn người đi đến thềm phòng bếp của Trạm trộn bê tông nhựa nóng Đại Phát để đánh bạc. Thấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân để sẵn trên cửa sổ phòng bếp Trạm trộn bê tông nhựa nóng Đại P1, Trần Nam T2 lấy xuống cầm trên tay để sử dụng đánh bạc. Trước khi đánh bạc, Trần Nam T2 nói: Chúng ta đánh bài ba bích. Mọi người đều hiểu đánh bạc bằng bài tú lơ khơ kiểu tiến lên miền nam, với hình thức chơi và mức sát mỗi ván cụ thể như sau:

Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mỗi ván chia mỗi người 13 quân bài, quy định thứ tự các quân bài từ thấp đến cao là 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A (át), 2; thứ tự chất bài từ thấp đến cao là bích, chuồn, rô, cơ. Sau khi chia bài, người nào có 05 đôi quân bài liền kề nhau hoặc có 06 đôi quân bài hoặc có 4 quân bài “2” hoặc có 4 quân bài “3” hoặc có các quân bài từ 3 đến A (át) thì thắng (gọi là thắng trắng) và kết thúc ván bài, người thắng được nhận mỗi người chơi số tiền 30.000 đồng. Hoặc mỗi ván bài, người nào đánh hết số quân bài trên tay trước thì thắng và kết thúc ván bài, những người còn lại (gọi là người thua) mỗi người thua phải trả cho người thắng số tiền 10.000 đồng, nếu người nào thua có “2 rô” hoặc “2 cơ” mà chưa đánh được thì phải trả thêm 20.000 đồng cho người thắng, tương tự đối với “2 bích” hoặc “2 chuồn” thì người thua phải trả 10.000 đồng cho người thắng. Người nào không đánh được quân bài nào (gọi là lủng), khi kết thúc ván bài thì phải trả cho người thắng số tiền 40.000 đồng. Mỗi ván bài, người nào đánh hết số quân bài trên tay trước, đồng thời đánh quân bài “3 bích” cuối cùng thì thắng (gọi là thắng phạt 3 bích) và nhận từ mỗi người chơi còn lại số tiền 50.000 đồng. Trường hợp người đánh, bị người khác chặn không đánh được quân bài “3 bích” cuối cùng (gọi là đền 3 bích) thì người này phải trả số tiền 150.000 đồng cho người chặn được. Người nào đánh “2 rô” hoặc “2 cơ” mà bị chặn bởi tứ quý (bốn quân bài giống nhau) hoặc 3 đôi quân bài liền kề nhau (ba đôi thông) hoặc 4 đôi quân bài liền kề nhau (bốn đôi thông) thì phải trả cho người chặn số tiền 20.000 đồng, nếu người chặn này bị người khác chặn đè bởi tứ quý hoặc 3 đôi thông hoặc 4 đôi thông cao hơn thì người chặn trả cho người chặn đè số tiền 40.000 đồng, người bị chặn không mất gì, tương tự đối với “2 chuồn” hoặc “2 bích” thì người bị chặn trả cho người chặn số tiền 10.000 đồng, nếu người chặn này bị người khác chặn đè thì người chặn trả cho người chặn đè số tiền 20.000 đồng.

Quá trình đánh bạc, Lê Văn S sử dụng số tiền 460.000 đồng, Trần Nam T2 sử dụng số tiền 100.000 đồng, Trần Văn T sử dụng số tiền 500.000 đồng, Trần Văn P sử dụng số tiền 100.000 đồng đều để đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, trong khi các đối tượng Trần Văn T, Trần Nam T2, Lê Văn S và Trần Văn P đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị Công an phường Đ, thị xã H, tỉnh T phát hiện lập biên bản sự việc, tạm giữ số tiền mà các các đối tượng dùng để đánh bạc là 1.160.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-TXHL ngày 03 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Văn Thoại, Trần Nam Trung về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Nam T2 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện N, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X, huyện N, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321; khoản 2, khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

- Về vật chứng vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị xử:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.160.000 đồng, là số tiền của hai bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc đã thu giữ trong vụ án.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân thu giữ trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 00 phút đến 14 giờ 45 phút ngày 11/01/2024, tại khu vực thềm nhà bếp Trạm trộn bê tông nhựa nóng Đại Phát thuộc tổ dân phố H, phường Đ, thị xã H, tỉnh T hai bị cáo đã cùng với Trần Văn P và Lê Văn S thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Tiến lên miền nam” với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.160.000 đồng, thì bị Công an phường Đ, thị xã H phát hiện lập biên bản sự việc.

Lời khai nhận tội của hai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản sự việc và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận tổng số tiền hai bị cáo và các đối tượng sử dụng đánh bạc là 1.160.000 đồng, trong đó bị cáo Trần Nam T2 sử dụng số tiền 100.000 đồng, Trần Văn T sử dụng số tiền 500.000 đồng vào việc đánh bạc. Tuy tang số đánh bạc của các bị cáo thấp hơn mức phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo Trần Văn T đang có tiền án về tội đánh bạc, còn bị cáo Trần Nam T2 đang có tiền sự về hành vi đánh bạc nên hai bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn. Trần Văn T và Trần Nam T2 đều là những người bị Lê Văn S rủ rê tham gia đánh bạc, trong đó Trần Văn T sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất, Trần Nam T2 là người đưa ra hình thức đánh bạc nên hai bị cáo giữ vai trò ngang bằng nhau trong vụ án. Hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích thu lợi bất chính, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, hôm nay cần đưa các bị cáo ra xét xử nhằm lên một mức án tương xứng với hành vi, hậu quả mà các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên cũng cần xét cho các bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc ít, mang tính giải trí hơn là sát phạt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên toà cũng như quá trình điều tra hai bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Văn T đã từng tham gia phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, có em ruột ông nội bị cáo là liệt sỹ Trần Văn T5 được Nhà nước tặng thưởng Bằng khen Tổ quốc ghi công, hiện bị cáo đang là người thờ cúng liệt sỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Gia đình có công với Cách mạng” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Còn bị cáo Trần Nam T2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở phân tích đánh giá đến tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo và đối chiếu với Nghị Quyết số 01/2022/NQ - HĐTP, ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử các bị cáo mức án như đại diện Viên kiểm sát đề nghị là có căn cứ.

- Về hình phạt bổ sung: [6] Các bị cáo có nghề nghiệp, có thu nhập nên cần áp dụng hình hình phạt bổ sung mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Trong vụ án có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Lê Văn S và Trần Văn P là những người tham gia đánh bạc cùng các bị cáo nhưng tổng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và hiện không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, gá bạc quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự nên đều không phải chịu trách nhiệm hình sự. Công an thị xã H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép đối với các đối tượng trên là có căn cứ. Còn anh Lê Minh Đ là Giám đốc công ty TNHH Đ1, chịu trách nhiệm quản lý Trạm trộn bê tông nhựa nóng tại phường Đ, thị xã H, nhưng không biết sự việc các bị cáo và những người liên quan đánh bạc tại khu vực nhà bếp của Trạm và cũng không biết rõ nguồn gốc bộ bài tú lơ khơ các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Vật chứng vụ án: [8] 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân thu giữ trong vụ án là công cụ phạm tội không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy, còn số tiền 1.160.000 đồng mà bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Nam T2 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện N, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X, huyện N, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự và trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321; khoản 2, khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.160.000 đồng là số tiền của hai bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc đã thu giữ trong vụ án.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng thu giữ trong vụ án.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc: Bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T, Trần Nam T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ