- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Nhất phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày 23 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mầu Văn Mùi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Văn Bảy và ông Ngô Duy Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXX-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh ngày 18/02/2005; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lê Quang D và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; quá trình hoạt động của bản thân: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 03/11/2023 đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Hải: Ông Lê Văn Duy, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ: Đường Phạm Văn Đồng, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người làm chứng: Bà Hoàng Thị Th, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 03/11/2023 tại thôn Đồng Thành, xã Yên Dương, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện T tiến hành kiểm tra, phát hiện Lê Văn N đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: Thu tại túi quần phía trước bên phải của N 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng chứa tinh thể dạng đá màu trắng (N khai là ma túy đá mua để sử dụng), được niêm phong ký hiệu M1.
Tại bản Kết luận giám định số: 3008/KLGĐ ngày 07/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Tinh thể đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,2524 gam (không phảy hai năm hai bốn gam, không kể bao bì)”. Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu A1 = 0,2229gam mẫu và toàn bộ bao gói.
Về nguồn gốc gói ma túy, Lê Văn N khai nhận: Sáng ngày 03/11/2023, N đang ở chơi một mình ở khu vực xã Yên Dương, huyện T thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy. N tìm và mua được của một người nam giới đi xe máy Dream không có biển kiểm soát (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy đá với giá 300.000đồng và đúc vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất vào túi quần phía trước bên phải đi bộ tìm nơi sử dụng.
Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSTĐ ngày 29/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt Lê Văn N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nhận thức, trình độ văn hóa của bị cáo, xử phạt bị cáo mức thấp N theo đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/11/2023, tại thôn Đồng Thành, xã Yên Dương, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo Lê Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,2524gam ma túy (loại Methamphetamine) mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn xã hội cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông, bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào khác để xác định đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại và toàn bộ bao gói do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/11/2023).
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại, gồm: 0,2229gam mẫu và toàn bộ bao gói (Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2024).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Mầu Văn Mùi |