vanban.org

Bản án 08/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Trung D, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong đựng mẫu vật (chất ma túy Methamphetamine) hoàn trả sau giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trung D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày 24-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Xuân.

Bà Hoàng Thị Bích Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Khánh Ly- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Bùi Trung D, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1974, tại Bắc Giang. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Trung Đ (đã chết) và bà Cáp Thị Y (đã chết); có vợ là Đỗ Thị T và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, xử phạt 02 năm tù, bồi thường dân sự 2.400.000 đồng về tội trộm cắp tài sản, án tích trên đã được xoá; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/11/2023, bị tạm giam từ ngày 15/11/2023 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Trung D là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 09/11/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy Bùi Trung D đi xe khách từ tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y đến ngã tư thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua của một người đàn ông không quen biết 01 đoạn ống hút nhựa đựng ma túy với giá 300.000 đồng. Bùi Trung D cất ma túy vào túi quần trước bên trái rồi bắt xe khách để về nhà, do ngủ quên nên khi xe đi đến địa phận thôn P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Bùi Trung D mới xuống xe. Hồi 20 giờ 20 phút ngày 09/11/2023, Bùi Trung D lấy gói ma túy ra, cầm ở tay trái đi tìm chỗ sử dụng thì bị bắt quả tang, tạm giữ 01 đoạn ống hút nhựa màu đen, kích thước 2,5cm x 1,5cm, hàn kín hai đầu, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 10/11/2023, Bùi Trung D dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số: 1116/KL-KTHS ngày 13/11/2023, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu giữ của Bùi Trung D là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,389 gam (đã trừ bì).

Với nội dung như trên Cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 03 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Bùi Trung D, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung D, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15-18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng chất ma túy Methamphetamine hoàn trả sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 20 giờ 20 phút ngày 09/11/2023, tại thôn P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Bùi Trung D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,389 gam chất ma túy Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, đã từng có tiền án (đã được xoá), do đó bị cáo là người có nhân thân không tốt. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo có mẹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Xét lời luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân và đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh và qua tranh tụng tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xác minh xử lý.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Trung D, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong đựng mẫu vật (chất ma túy Methamphetamine) hoàn trả sau giám định.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, chi tiết được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05 tháng 01 năm 2024)

4. Về án phí: Bị cáo Bùi Trung D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ