vanban.org

Bản án 08/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 21 (hai mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2024/HS-ST
Ngày 28/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Bá Thìn

Ông Nguyễn Hữu Sáu

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Nguyệt Quế - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST- HS ngày 15/02/2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn S, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1995; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N (đã chết); Tiền án: Ngày 17/3/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2023; Tiền sự: không; Nhân thân: ngày 01/11/2021 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.

Bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc T Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Chu Tất T1, sịnh năm 1963 (vắng mặt)

Trú tại: Khu phố T, thị trấn R, huyện Đ, Tỉnh thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn R đang tiến hành tuần tra tại khu vực đường 39m thuộc địa phận khu phố T, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện Nguyễn Văn S có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra tổ công tác đã phát hiện ở túi quần phía trước bên phải của S đang mặc có một gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. S khai nhận đây là ma túy mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ niêm phong gói giấy chứa chất bột nghi là ma túy và đưa Nguyễn Văn S về trụ sở Công an huyện Đ để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Nguyễn Văn S khai nhận: Do nghiện hút ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 22/12/2023 Sinh một mình đi bộ đến khu vực gần Công ty Điện lực huyện Đ trên đường Cm thuộc khu phố T, huyện Đ gặp người đàn ông không quen biết, không rõ địa chỉ hỏi mua 01 gói ma túy trị giá 500.000đồng về để sử dụng. Sau khi mua xong, S đang trên đường đi bộ tại phố T thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn R tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt giữ, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của S 01 gói giấy chứa ma túy (BL 62-74).

Ngày 22/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trưng cầu giám định gói giấy chứa các chất bột màu trắng (nghi ma túy) thu giữ của Nguyễn Văn S (BL 33).

Tại Bản kết luận giám định số 4675/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất bột màu trắng đựng trong gói giấy gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,159 gam loại Heroin (BL 36).

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì do Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Mai Văn M, Nguyễn Trần Đ, Lưu Bình N1 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T bên trong có toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,139 gam ma túy loại Heroin là mẫu vật còn lại sau giám định hiện đang quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn để phục vụ quá trình truy tố, xét xử giải quyết vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-ĐS ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn S từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ từ ngày 22/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; tịch thu tiêu hủy 0,139 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý có đơn xin xử vắng mặt và có bài bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội; bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận: Do là người sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 22/12/2023 Nguyễn Văn S một mình đi bộ đến khu vực gần Công ty Điện lực huyện Đ trên đường Cm thuộc khu phố T, huyện Đ gặp người đàn ông không quen biết, không rõ địa chỉ hỏi mua 01 gói ma túy trị giá 500.000đồng về để sử dụng. Sau khi mua xong, S đang trên đường đi bộ tại khu phố T thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn R tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt giữ, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc của S có gói giấy chứa ma túy. Số ma túy mà Sinh tàng trữ có khối lượng 0,159 gam loại Heroin.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi tàng trữ chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng và nhân thân: Ngày 17/3/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2023, bị cáo chưa được xóa án tích nay lại phạm tội là tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nhân thân: ngày 01/11/2021 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo quyết định mức hình phạt tương xứng để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa, bị cáo là người sử dụng ma túy, thuộc diện cận nghèo, không có công việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,139 gam ma túy loại Heroin là mẫu vật còn lại sau giám được đựng trong 01 phong bì do Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Mai Văn M, Nguyễn Trần Đ, Lưu Bình N1 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/01/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa với Công an huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, trợ giúp pháp lý, bị cáo đề nghị miễn án phí vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 21 (hai mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

V vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,139 gam ma túy loại Heroin là mẫu vật còn lại sau giám được đựng trong 01 phong bì do Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Mai Văn M, Nguyễn Trần Đ, Lưu Bình N1 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/01/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa với Công an huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sư.

Cỡ chữ